Top
Được tạo bởi Blogger.
Bài đăng nổi bật
NGÀY ĐÓ CHÚNG MÌNH
Toại Khanh Tôi đi xa mới về. Thùng thư trước nhà đầy ắp, cả cái hộp thư riêng ở bưu điện cũng không còn chỗ nhét. Ngoài phần lớn những thứ đ...
Tìm kiếm Blog này
Lưu trữ Blog
- tháng 9 2020 (2)
- tháng 7 2020 (3)
- tháng 5 2020 (2)
- tháng 4 2020 (8)
- tháng 3 2020 (9)
- tháng 2 2020 (67)
- tháng 1 2020 (255)
- tháng 12 2019 (102)
- tháng 11 2019 (5)
- tháng 10 2019 (22)
- tháng 9 2019 (37)
- tháng 8 2019 (42)
- tháng 7 2019 (10)
- tháng 1 2019 (14)
- tháng 7 2018 (3)
- tháng 2 2018 (2)
Từ khoá
random posts
Labels
Popular Posts
-
[ Trung Bộ Kinh / 87. Kinh Ái sanh ] : Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp cô đ...
-
KINH TIỂU BỘ Khuddhaka Nikàya Tập I Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt KINH PHẬT THUYẾT NHƯ VẬY (Itivuttaka) -ooOoo- CHƯƠNG 1 - Tập M...
-
Chùa Bửu Long quận 9 HCM I- ÐỊA CHỈ CHÙA NAM TÔNG TẠI SÀI GÒN QUẬN 2 CHÙA NGUYÊN THỦY 33-A đường 10,khu Phố 1, phường Cát Lái, Q.2, Tp.HCM Ð...
-
Một buổi làm lễ thọ giới Tỷ Kheo tại chùa Wat Nong Pah Pong (Thái Lan) tháng 7/2017.
-
Chùa Phúc Quang từ khi thành lập không có vị sư nào ở quá 3 năm, mặc dù người dân trong vùng rất mong ngóng. Nằm cách trung tâm TP Bắc Giang...
-
XEM KINH TRƯỜNG BỘ (Bản dịch Pali - Việt của Hoà Thượng Minh Châu) VIDEO 01 01. Kinh Phạm võng (Brahmajàla Sutta) VIDEO 02 Kinh Phạm võng ...
-
KINH TIỂU BỘ Khuddhaka Nikàya Tập VII Giáo sư Trần Phương Lan dịch Anh-Việt Chuyện Tiền Thân Đức Phật IV (Jàtaka, số 396-473) -ooOoo- CH...
-
[ Trung Bộ Kinh / 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt ] các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, n...
-
Chùa Bửu Long quận 9 HCM I- ÐỊA CHỈ CHÙA NAM TÔNG TẠI SÀI GÒN QUẬN 2 CHÙA NGUYÊN THỦY 33-A đường 10,khu Phố 1, phường Cát Lái, Q.2, Tp.HCM Ð...
-
KINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt TẬP V - THIÊN ĐẠI PHẨM / CHƯƠNG 1 45. Tương Ưng Ðạo -ooOo...
Kinh Phật
Phật sự
‹
›
Thần Thông
Thiên Giới
Chùa Nam Tông
Đọa Xứ
Video
Nam Thiên Thiền Tự còn được gọi là chùa Nội Phật tọa lạc tại thôn Nội Phật, xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, Tp Hà Nội. Cách Hồ Gươm 26,4 km, đi ô tô hết 40 phút, là ngôi chùa Nam Tông gần Hà Nội nhất.
Trụ trì: Tỳ khưu Minh Từ.
ĐT: 0919 431 811
Sư Minh Từ về tiếp quản chùa vào năm 2000, đến nay là được 15 năm. Theo lời sư kể lại thì đây là ngôi chùa làng, được thành lập lâu lắm rồi, không ai còn nhớ là thành lập vào năm nào nữa. Sư về đây hỏi các cụ cao tuổi nhất làng này thì các cụ cũng không nhớ ai từng là trụ trì chùa này.Khi tỳ khưu Minh Từ về tiếp quản thì chùa chỉ có 1700 m2, các công trình xây dựng cũng chưa có gì to lớn, chỉ có mấy căn nhà nhỏ và chiếc ao trong khuôn viên chùa. Sau 15 năm xây dựng và nới rộng thêm, đến nay chùa được 7000 m2 với các công trình: tháp thờ Phật và Xá lợi là chánh điện, tháp cốt, trường thiền, ao sen.
Các công trình trong chùa được hoàn thành là do sự ủng hộ về tinh thần của nhà nước, đoàn thể chính quyền xã và sự đóng góp tiền của các Phật tử các nơi, sự đóng góp sức lao động của dân làng địa phương. Ngôi bảo tháp thờ Xá lợi Phật được xem là ngôi bảo tháp chính của chùa được xây dựng vào năm 2009, hoàn thành trong 6 năm (vượt thời gian dự kiến 4 năm) hoàn toàn do công sức và vật liệu của dân làng trong thôn. Khi khánh thành bảo tháp có sự hiện diện của Chư tôn đức tăng tại các tỉnh thành của Việt Nam và Thái Lan. Các vị trưởng lão đã làm lễ an vị Xá lợi và Kim thân Phật trong bảo tháp. Điều này giúp cho lòng tịnh tín của dân làng được tăng lên và tràn đầy phước báu.
Hiện tại, chùa có 2 vị sư trú ngụ là sư Minh Từ và 1 vị đệ tử đang học tại trường Phật học Thái Lan năm thứ 2 (tính đến thời điểm bài viết này năm 2015).
Phật tử thôn này toàn người già, người trẻ họ ít đến chùa vì phải lo làm việc. Sư trụ trì thường chỉ bảo cho các cụ tụng kinh Pāli. Tuy lớn tuổi nhưng các cụ miệt mài chăm chỉ học rồi cũng đọc được. Hàng tháng, 8 buổi tối, 2 ngày sóc, vọng nhà chùa làm lễ tụng kinh cầu an cho làng.
Hàng năm, sư Minh Từ đều tổ chức các chuyến đi từ thiện phát quà cho bà con tại các vùng dân tộc, vùng xâu vùng xa nên được nhà nước công nhận và trao tặng bằng khen rất nhiều. Trong chùa luôn tiếp nhận bất cứ đồ dùng nào người dân cho, từ cái nồi, cái chậu, giày dép, v.vv… để có dịp là chở đi từ thiện. Sư trụ trì cho biết bà con nghèo ở ngoài Bắc rất cần nhà chùa cho đồ dùng vì nếu cho tiền thì họ cũng không biết phải mua đồ ở đâu. Cho nên, trong nhà kho của chùa luôn chứa đồ dùng, quần áo mà bá tánh cho để làm từ thiện.
Nam Thiên Thiền Tự là ngôi cổ tự được thành lập từ rất lâu. Từ năm 2000 đến nay, chùa là nơi sinh hoạt tâm linh giúp cho bà con trong thôn hiểu biết thêm về Phật giáo Theravāda. Ngoài ra, các hoạt động tôn giáo, từ thiện, xã hội cũng giúp cho đời sống của người dân trong thôn được phồn thịnh.
[Tổng hợp]
Chùa Nam Tông - Phật sự
Chùa Bửu Long (đường Nguyễn Xiển, quận 9, TP HCM) được xây dựng từ năm 1942. Chùa nằm trên khuôn viên rộng 11 ha, vị trí là ngọn đồi phía tây sông Đồng Nai, trong công viên Lịch sử văn hóa dân tộc. cách trung tâm thành phố khoảng 25 km.
Chùa Bửu Long có khuôn viên rộng và không bao giờ thắp nhang, người dân chỉ đến cầu nguyện, tham quan. Đây là ngôi chùa có chánh điện cao nhất Việt Nam ở Sài Gòn.
Chùa Bửu Long có tên chính thức là Thiền Viện Tổ Đình Bửu Long, nguyên là một tịnh thất, tọa lạc tại số 81 đường Nguyễn Xiển, phường Long Bình, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Bửu Long thuộc hệ phái Phật giáo nguyên thủy (Nam Tông) do cư sĩ Võ Hà Thuật thành lập năm 1942, đến năm 1958, ông dâng cúng cho thiền sư Hộ Tông, vị tăng thống đầu tiên của Phật giáo nguyên thủy Việt Nam, lập thành thiền viện Bửu Long và ông xuất gia với pháp danh Lão Tâm.
Năm 1961, ngài Narada Mahàthera, Đức tăng thống Phật giáo SriLanKa tặng thiền viện một cây bồ đề chiết từ cây mẹ tại Bồ đề Đạo Tràng Ấn Độ, được đem trồng trong khuôn viên chùa, nay đã được tôn tạo thành Bồ đề Phật Cảnh.
Kiến trúc Chùa Bửu Long theo văn hóa Phật giáo cổ đại và liên tục được trùng tu tôn tạo gồm chính điện, tăng xá, trai đường, tăng khách đường, tổ đường, thiền thất của chư tăng, ni viện, ni xá và am thất của tu nữ, tịnh nhân.
Ngoài ra còn có một động khổ hạnh tưởng niệm 6 năm Bồ Tát tu khổ hạnh và một tượng Phật nằm tạc từ đá granite dài 8m, nặng trên 50 tấn, xung quanh trang trí 10 trụ đèn cũng bằng đá granite điêu khắc theo mẫu trụ đá vua Asoka tại các Phật tích Ấn Độ.
Đặc biệt, chùa Bửu Long có bảo tháp Gotama Cetiya thờ xá lợi Đức Phật và Chư Thánh Tăng, rộng trên 2.000 mét vuông, cao 70m, một kiến trúc vừa hoành tráng hiện đại vừa biểu hiện nét cổ kính nhất của nền văn minh Suvannabhumi cổ đại trong vùng Đông Nam Á.
Bảo tháp chua Bao Long có quy mô lớn nhất Việt Nam, cao ba tầng với chiều cao 56 mét và bốn tháp xung quang với tên gọi: tháp Đản Sinh, tháp Thành Đạo, tháp Pháp Luân, tháp Niết Bàn. Tháp có tổng sức chứa trên 2.000 người cùng vào tham quan chiêm bái xá lợi Phật.
Năm 2007 chùa Bửu Long được trùng tu và xây dựng thêm. Chính điện ngày nay được trùng tu từ di tích cũ nơi tổ sư và Đại Đức Lão Tâm để lại, chủ yếu là tôn tạo cho khang trang và tiện nghi hơn nhưng vẫn giữ lại hình dáng như cũ, chỉ thêm phần tiền đường và một vài chi tiết phối hợp giữa kiến trúc Phật giáo Đông Nam Á (Thái Lan, Ấn Độ) với kiến trúc triều đại nhà Nguyễn, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo.
[Sưu tầm]
Chùa Bửu Long có khuôn viên rộng và không bao giờ thắp nhang, người dân chỉ đến cầu nguyện, tham quan. Đây là ngôi chùa có chánh điện cao nhất Việt Nam ở Sài Gòn.
Chùa Bửu Long có tên chính thức là Thiền Viện Tổ Đình Bửu Long, nguyên là một tịnh thất, tọa lạc tại số 81 đường Nguyễn Xiển, phường Long Bình, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Bửu Long thuộc hệ phái Phật giáo nguyên thủy (Nam Tông) do cư sĩ Võ Hà Thuật thành lập năm 1942, đến năm 1958, ông dâng cúng cho thiền sư Hộ Tông, vị tăng thống đầu tiên của Phật giáo nguyên thủy Việt Nam, lập thành thiền viện Bửu Long và ông xuất gia với pháp danh Lão Tâm.
Năm 1961, ngài Narada Mahàthera, Đức tăng thống Phật giáo SriLanKa tặng thiền viện một cây bồ đề chiết từ cây mẹ tại Bồ đề Đạo Tràng Ấn Độ, được đem trồng trong khuôn viên chùa, nay đã được tôn tạo thành Bồ đề Phật Cảnh.
Kiến trúc Chùa Bửu Long theo văn hóa Phật giáo cổ đại và liên tục được trùng tu tôn tạo gồm chính điện, tăng xá, trai đường, tăng khách đường, tổ đường, thiền thất của chư tăng, ni viện, ni xá và am thất của tu nữ, tịnh nhân.
Ngoài ra còn có một động khổ hạnh tưởng niệm 6 năm Bồ Tát tu khổ hạnh và một tượng Phật nằm tạc từ đá granite dài 8m, nặng trên 50 tấn, xung quanh trang trí 10 trụ đèn cũng bằng đá granite điêu khắc theo mẫu trụ đá vua Asoka tại các Phật tích Ấn Độ.
Đặc biệt, chùa Bửu Long có bảo tháp Gotama Cetiya thờ xá lợi Đức Phật và Chư Thánh Tăng, rộng trên 2.000 mét vuông, cao 70m, một kiến trúc vừa hoành tráng hiện đại vừa biểu hiện nét cổ kính nhất của nền văn minh Suvannabhumi cổ đại trong vùng Đông Nam Á.
Bảo tháp chua Bao Long có quy mô lớn nhất Việt Nam, cao ba tầng với chiều cao 56 mét và bốn tháp xung quang với tên gọi: tháp Đản Sinh, tháp Thành Đạo, tháp Pháp Luân, tháp Niết Bàn. Tháp có tổng sức chứa trên 2.000 người cùng vào tham quan chiêm bái xá lợi Phật.
Năm 2007 chùa Bửu Long được trùng tu và xây dựng thêm. Chính điện ngày nay được trùng tu từ di tích cũ nơi tổ sư và Đại Đức Lão Tâm để lại, chủ yếu là tôn tạo cho khang trang và tiện nghi hơn nhưng vẫn giữ lại hình dáng như cũ, chỉ thêm phần tiền đường và một vài chi tiết phối hợp giữa kiến trúc Phật giáo Đông Nam Á (Thái Lan, Ấn Độ) với kiến trúc triều đại nhà Nguyễn, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo.
![]() |
| 1. Chùa Bửu Long nằm trên khuôn viên rộng 11 ha. |
![]() |
| 2. Theo hệ Phật giáo nguyên thủy Nam tông nên trong chùa chỉ có tượng Phật Thích Ca và không bao giờ thắp nhang như các chùa hệ phái khác. |
![]() |
| 5. Trong đỉnh chính của bảo tháp là nơi tôn thờ ngọc Xá Lợi Đức Phật và Xá Lợi chư Thánh A La Hán, thu hút nhiều du khách tham quan. |
![]() |
| 6. Những viên xá lợi trong veo được trưng bày cẩn thận trong tủ kính. Bảo tháp chỉ mở cửa đón khách ngày hai buổi. Sáng từ 8h đến 10h, chiều từ 14h đến 16h. |
![]() |
| 7. Trên tầng cao nhất, du khách và Phật tử có thể dễ dàng ngắm khung cảnh Sài Gòn và các tỉnh thành lân cận. |
![]() |
| 8. Ngay dưới chân bảo tháp là hồ bán nguyệt có diện tích 280 m2, ở giữa có vòi phun nước hình rồng. |
![]() |
| 10. Khuôn viên chùa có diện tích lớn bậc nhất trong các ngôi chùa ở Sài Gòn và bao phủ nhiều cây xanh. Quanh sân chính là hàng thạch đăng tự rất đặc trưng của kiến trúc Phù Nam cổ xưa. |
[Sưu tầm]
Chùa Nam Tông - hot - Phật sự - Top
![]() |
| Chùa Bửu Long quận 9 HCM |
I- ÐỊA CHỈ CHÙA NAM TÔNG TẠI SÀI GÒN
QUẬN 2
CHÙA NGUYÊN THỦY33-A đường 10,khu Phố 1, phường Cát Lái, Q.2, Tp.HCM
ÐT: 08. 742 0214; 0918. 325 769
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP CHẤT
QUẬN 3
CHÙA KỲ VIÊN610 Nguyễn Ðình Chiểu, phường 3, Q.3, Tp.HCM
ÐT: 08. 832 5522; 830 0845; 830 5135; 830 0846; 0903. 870 370
Trụ trì: Tỳ khưu TĂNG ÐỊNH
CHÙA CHANDARAMSYA (Khmer)
164/235 Trần Quốc Thảo, phường 7, Q.3, Tp.HCM
ÐT: 08. 843 5359
Trụ trì: Tỳ khưu DANH LUNG (Ekasuvanna)
QUẬN 6
CHÙA TRÚC LÂM (Quận 6)154B Đặng Nguyên Cẩn, phường 13, Q. 6, Tp.HCM
ÐT: 08. 876 3324
Trụ trì: Tỳ khưu PHÚC HỶ
CHÙA SIÊU LÝ (Phú Định)
241-B/44/37 Nguyễn Văn Luông, phường 11, Q.6, Tp.HCM
ÐT: 08. 876 1635 - 08. 876 7570 - 08. 876 7614 - 0903. 856 825
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP NHIÊN
QUẬN 7
CHÙA BỒ ÐỀ (Tân Quy)6B/1 Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Q.7, Tp.HCM
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu PHƯỚC ĐỨC
QUẬN 8
CHÙA GIÁC QUANG47 Lương Văn Can, phường 15, Q.8, Tp.HCM
ÐT: 08. 8 549.247
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN ÐẠT
QUẬN 9
XÁ LỢI PHẬT ÐÀI246/5 Vĩnh Thuận, phường Long Bình, Q.9, Tp.HCM
ÐT: 08. 8870 211 - 08. 8870 212 - 090. 604 882
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN NHÂN
CHÙA KIỀU ÐÀM
Ấp Cây Dầu, phường Tân Phú, Q.9, Tp.HCM
ÐT: 08. 8961 696
Trụ trì: Tỳ khưu NHẬT THIỆN
CHÙA BỬU LONG
số 81, đường Nguyễn Xiển, phường Long Bình, quận 9, Tp.HCM.
ÐT: 08. 7325 059 – 061. 831 193 – 08. 8889 513
Trụ trì: Tỳ khưu VIÊN MINH
Q. BÌNH THẠNH
CHÙA PHÁP QUANG414/17 Nơ Trang Long, phường 13, Q.Bình Thạnh, Tp.HCM
ÐT: 08. 8432 913
Trụ trì: Tỳ khưu MINH GIÁC
Q. GÒ VẤP
CHÙA PHÁP LUÂN19/1C Nguyễn Thái Sơn, Q.Gò Vấp, Tp.HCM
ÐT: 08. 9850 748 - 08. 8956 514
Trụ trì: Tỳ khưu PHƯỚC HẢI
CHÙA PHỔ MINH
2 Thiên Hộ Dương, phường 1, Q.Gò Vấp, Tp.HCM
ÐT: 08. 8945 049 - 0903. 951 075
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN TÂM
CHÙA TỪ QUANG
63 Trần Bình Trọng, phường 1, Q.Gò Vấp, Tp.HCM
ÐT: 08. 8931 499
Trụ trì: Tỳ khưu Minh Đức (ĐT: 0908 353 221)
CHÙA THANH MINH
90 Trần Huy Liệu, phường 15, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam
ĐT: 08. 8457 792
Trụ trì: Tỳ khưu THANH MINH
Q. TÂN BÌNH
CHÙA DIỆU QUANG100 Trần Văn Quang. Phường 10, Q.Tân Bình, Tp.HCM
ĐT: 08. 9742 304
Trụ trì: Tu nữ DIỆU TÂM (Sư cô HIỀN)
CHÙA PHẬT BẢO
57 Lạc Long Quân, phường 10, Q.Tân Bình, Tp.HCM
ÐT: 08. 8640 285 - 0913. 977 727
Trụ trì: Tỳ khưu Quang Minh
CHÙA BODHIVAMSA POTHI VONG (Khmer)
1985B Hồng Lạc, phường 10, Q.Tân Bình, Tp.HCM
ÐT: 08. 9710 131
Trụ trì: Tỳ khưu TĂNG NGỌC AN (Pannasaro)
Q. TÂN PHÚ
CHÙA BỬU THẮNG73 Lê Thiệt (Văn Cao-Lê Thiệt), p.Phú Thọ Hòa, q. Tân Phú.
Trụ trì: Tỳ khưu Chơn Minh (0908 669 888)
Q. THỦ ÐỨC
CHÙA BỬU QUANG171/10 QL. 1A, tổ 8, khu phố 3, ấp Gò Dưa, phường Bình Chiểu, Q.Thủ Ðức, Tp.HCM
ÐT: 08. 3729 0248; 0903. 870 370
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN MINH
CHÙA BỬU HẠNH (Tịnh thất Cây Mít Nài)
Tổ 8,khu phố 3, ấp Gò Dưa, phường Bình Chiểu, Q.Thủ Ðức, Tp.HCM
CHÙA BÁT CHÁNH ĐẠO
16/12A, đường số 12, khu phố 4, phường Tam Bình, Q.Thủ Đức.
ÐT: 0973 152 615
Trụ trì: Tỳ khưu Phước Định
HUYỆN BÌNH CHÁNH
CHÙA NAM TÔNG220/110/166/1, thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, Tp.HCM
ÐT: 08. 8754 246 - 08. 8858 099
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN HẠNH
CHÙA TĂNG BẢO
D3/1D Ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp.HCM
ÐT: 08. 7650 521 - 0908. 432 930, 01688 925 246
Trụ trì: Tỳ khưu BỬU MINH
HUYỆN HÓC MÔN
TỊNH XÁ TRÚC LÂM (Hóc Môn)18/1 Ấp Xuân Thới Ðông, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Tp.HCM
ÐT: 08. 710 8863; 883 0110
Trụ trì: Tỳ khưu TRÍ MINH
-ooOoo-
II- ÐỊA CHỈ CHÙA NAM TÔNG TẠI CÁC NƠI KHÁC
AN GIANG
CHÙA SÔM XÂYẤp Phú Thọ, xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
ĐT: 076 272135
Trụ trì: Tk. Châu Xiếp
CHÙA TƯ'K PHÔ'S (Kh'mer)
Ấp An Lợi, xã Châu Lăng, Huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Trụ trì: Thượng tọa CHÂU HẮC
Điện thoại: 0913 12 59 70
BÀ RỊA - VŨNG TÀU
CHÙA THIỀN LÂM (THÍCH CA PHẬT ÐÀI)4/7 Trần Phú, phường 5, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064. 834 418
Trụ trì: Hòa thượng KIM MINH
CHÙA BỒ ÐỀ (Vũng Tàu)
25 Vi Ba, phường 1, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064 510450 - 09003. 645 916
Trụ trì: Tỳ khưu CHÁNH MINH
TAM BẢO THIỀN ÐƯỜNG
72 Vi Ba, phường 1, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu THẮNG PHƯỚC
CHÙA PHƯỚC HẢI (Vũng Tàu)
38 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường 2, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
ÐT: 064. 854 664
Trụ trì: Tỳ khưu MINH HẠNH
CHÙA HỘ PHÁP
45/4C Trần Phú, phường 5, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064. 832 575
Trụ trì: Tỳ khưu GIÁC TRÍ (0937099508)
CHÙA NAM SƠN (Giri Dakkhinasattharama)
33/18 Tổ 29,khóm Bình Sơn, đường Trần Xuân Độ, phường 6, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ĐT: 064. 562 355
Trụ trì: Tỳ khưu Quách Thành Sattha (Cittapanno)
THIỀN ÐƯỜNG PHẬT QUANG
KHU PHỐ 5, phường Phước Hưng, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064. 827 138 - 091. 700 688
Trụ trì: Tỳ khưu GIÁC TRÍ
THIỀN VIỆN VIÊN KHÔNG
Khu 2, ấp 4, xã Tóc Tiên, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064 948 533 - 0913. 886 778; 0903 058 315
Trụ trì: Tỳ khưu HỘ PHÁP
THIỀN VIỆN BỒ ĐỀ
78/14 Bình Giã, F.8 , tp Vũng Tàu,
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN MINH
Khemarama - TỊNH AN LAN NHÃ (Đối Diện Chùa Tịnh Quang Suối Nghệ)
Quốc lộ 56 – Tổ 11 – Thôn Quảng Thành – Xã Nghĩa Thành, Huyện Châu Đức, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Trụ trì: Sư cô Như Liên
Mob: (084) 1683506446. Tel : (084) 064 3975 050
NI VIỆN VIÊN KHÔNG
Khu 2, Ấp 4, xã Tóc Tiên, huyện Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu.
Trụ trì: Sư cô Liễu Pháp
CHÙA VIÊN TUỆ
Tổ 7, ấp Gò Cát, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu. Trụ trì: Tỳ khưu Khánh Tuệ (Đinh Văn Hùng )
Sđt : 0976698976
BẾN TRE
CHÙA TÂM THÀNHXã Quới Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
ĐT: 075. 623 200 - DĐ : 0917 850 526
BÌNH DƯƠNG
CHÙA THANH LONG42/23 Ấp Tân Lập, phường Phú Thọ, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
ÐT:
Trụ trì:
TỊNH THẤT PHƯỚC MINH
Tỉnh Bình Dương
Trụ trì:
CHÙA KIM QUANG
Tỉnh Bình Dương
Trụ trì: Tỳ khưu TUỆ PHÁP
CHÙA HỘI QUANG
B11, tổ 11, ấp Cây Sắn, xã Lai Quyên, huyện Bàu Bàn, tỉnh Bình Dương
Đt: 0982 802 604
Trụ trì: Tỳ khưu Trung Thiện
BÌNH ÐỊNH
CHÙA PHƯỚC QUANGThôn Vạn Quang, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh
ÐT: 0651. 616 007
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP THÀNH.
BÌNH PHƯỚC
CHÙA TỨ PHƯƠNG TĂNGXã Phước An, ấp Xa Trạch, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu PHƯỚC TỊNH
TAM BẢO THIỀN ÐƯỜNG
Trụ Thơ, khu phố Phú Bình, thị Trấn An Lộc, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước
ÐT: 0651. 666 653 - 091. 722 183
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN TRÍ
BÌNH THUẬN
CHÙA BÌNH LONGPhường Đức Long, Tp.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
ĐT: 062. 816 673, 0908. 382 223
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP TẤN
CẦN THƠ
TỊNH THẤT SIÊU LÝ (Thốt Nốt)Huyện Thốt Nốt, Tp.Cần Thơ
ÐT: 071. 644 376
Trụ trì: Tu nữ NGỌC DUYÊN
CHÙA PITUKHOSARANGSAY (Viễn Quang)
Địa chỉ: Mạc Đĩnh Chi, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.
CHÙA MUNIRENSAY
Địa chỉ: 36 đại lộ Hòa Bình, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.
ÐÀ NẴNG
CHÙA TAM BẢO323 Phan Châu Trinh, phường Bình Hiên, quận Hải Châu, Tp.Ðà Nẵng.
ÐT: 05113 823 399
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP HIẾU (0918 189 257)
ĐAK LAK
CHÙA PHỔ QUANGThôn 1, xã Quãng Tiến, huyện Cưm-gar, tỉnh Đaklak.
ĐT: 0935 - 330 199
Trụ trì: Tỳ khưu TÂM ĐỊNH
ÐỒNG NAI
CHÙA BỬU ÐỨCC-61-A, phường Bửu Long, Tp.Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 952 320 - 0913. 684 564
Trụ trì: Tỳ khưu GIÁC CHÁNH
CHÙA THIỀN QUANG 1
Ấp 8, xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 845 027
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN PHÁP (0908 504 488)
CHÙA THIỀN QUANG 2
219 Ấp 3, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 845 366 -
Trụ trì: Tỳ khưu CHÍ TÂM (0918 902 099)
CHÙA CỒ ÐÀM
120 Ấp 8, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 0903. 856 857 - 0903. 608 823
Trụ trì: Tỳ khưu CHƠN THIỆN
CHÙA NGỌC ÐẠT
Ấp Ðông, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 831 630
Trụ trì: Tỳ khưu TRÍ ÐỨC
CHÙA PHƯỚC HỘ
Tổ 21, ấp Tân Cang, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 0918. 342 115
Trụ trì: Tỳ khưu MINH HUỆ
THIỀN VIỆN PHƯỚC SƠN
Ðồi Lá Giang, 368 Suối Tân Cang, ấp Tân Cang, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 967 234 - 061. 967 237
Trụ trì: Tỳ khưu BỬU CHÁNH (0913 940 683 - 0913 629 860)
CHÙA Y SƠN
Ấp Tân Cang, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu PHƯỚC QUANG
CHÙA TAM PHƯỚC
247 K II, ấp Long Khánh 1, xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 511 590 - 0903. 856 854
Trụ trì: Tỳ khưu CHÁNH ÐỊNH
CHÙA PHƯỚC HUỆ (Long Thành)
311/9 QL 51,khu Cầu Xeo, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai.
ÐT: 061. 845 502
Trụ trì: Tỳ khưu TÂM HỶ
CHÙA QUANG MINH
Ấp 1, xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 845 872
Trụ trì:
CHÙA QUẢNG NGHIÊM
Ấp Ðông, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 832 713 - 0903. 880 456
Trụ trì: Tỳ khưu TUỆ QUYỀN
CHÙA PHƯỚC QUANG
Ấp 1, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 848 141
Trụ trì: Tỳ khưu CHƠN QUANG
CHÙA THÁI HÒA
Km 112, ấp Hiệp Nhất, huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 852 810
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP TÂN
CHÙA PHƯỚC HUỆ (Ðịnh Quán)
Km 90, ấp Cây Xăng, xã Phù Tức, huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 639 598
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP HUYỀN
CHÙA TỪ THIỆN
Km 90, ấp Ðồn Ðiền 1, xã Túc Trưng, huyện Ðịnh Quán,
Tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 639 899
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP ĐĂNG
CHÙA LINH PHÚ
Km 139, Quốc Lộ 20, xã Phú Sổ, huyện Tân Phú, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 858 101
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP CĂN.
TỊNH THẤT NGUYÊN KHÔNG
Ấp 9/4, xã Xuân Thạnh, huyện Thống Nhất, Đồng Nai.
Trụ trì: Tỳ khưu Phước Tùng (Phan Thanh Tùng).
Đt : 0903 610420
HÀ NỘI
CHÙA NỘI PHẬT (NAM THIÊN)Thôn Nội Phật, xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, tp Hà Nội (đi từ HN 40 ph / 26,4 km)
Trụ trì: Tỳ khưu Minh Từ
THIỀN VIỆN TÂM PHÁP
Tam Đảo – Vĩnh Phúc (đi từ HN 1 h 37 ph / 71,8 km)
Trụ trì: Tỳ khưu Tâm Pháp >>> Bưu điện báo không có Chùa này
CHÙA ĐỨC HÒA
Sóc Sơn – Hà Nội (đi từ HN 1 h 5 ph / 33,6 km)
Trụ trì: Tỳ khưu Thiện Minh
CHÙA KHMER
Địa chỉ: Làng văn hoá – Du lịch các dân tộc Việt Nam – Đồng Mô – Sơn Tây (đi từ HN 1 h 7 ph / 48,7 km)
Trụ trì: Tỳ khưu Kim Tuệ
BẮC NINH
CHÙA HỘ PHÁPĐào Xuyên, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Viện chủ: TT Giác Trí, trụ trì: ĐĐ Tâm Pháp, ĐĐ Nguyên Tuệ.
Đt: 0937099508
HUẾ
CHÙA TĂNG QUANG2/3/91 Nguyễn Chí Thanh, phường Phú Hiệp, Tp.Huế
ÐT: 054. 3541597 - 0914729792
Trụ trì: Tỳ khưu TÁNH HIỀN
CHÙA HUYỀN KHÔNG
Hương Hộ, hương Trà, Tp.Huế
ÐT: 054. 550 138 , 0913. 457 006
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP TÔNG
CHÙA HUYỀN KHÔNG Sơn Thượng
Hương Hộ, hương Trà, thừa Thiên Huế
Trụ trì: Tỳ khưu GIỚI ĐỨC
CHÙA THIỀN LÂM
Thượng 2, xã Thủy Xuân, phường Hương Thủy, Tp.Huế
ÐT: 054. 836 081
Trụ trì: Tỳ khưu TÂM AN
CHÙA PHÁP LUÂN
(Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa)
3 Lê Quý Đôn, thành phố Huế
ĐT: 054. 815 161
Trụ trì: Tỳ khưu TUỆ TÂM
CHÙA ĐỊNH QUANG
Xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, thừa Thiên Huế
Trụ trì: Tỳ khưu CHƠN HỮU
TỊNH XÁ GOTAMI
Thừa Thiên Huế
Trụ trì: Sư cô Từ Nguyên
KHÁNH HÒA
CHÙA NHƯ ÝTổ 14, núi Sạn, Tây Nam, Vĩnh Hải, Tp. Nha Trang (trước BV Lao và phổi)
ÐT: 058. 833 825; 0905. 153 647
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP TÂM
Nguyễn Đăng Khoa (Sư Đức Hiền) dt 0.90.50.40.654
THIỀN TRANG VIÊN HÒA
Tổ 4, thôn Cát Lợi, xã Vĩnh Hương, Tp. Nha Trang
ĐT: 01699 460 309
Quản tự: Sc TỊNH HỶ
KIÊN GIANG
CHÙA THIÊN TRÚC (Chùa Phật Lớn)Ðường Phương Thành, Khu phố 4, phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
ÐT: 077. 3852 993; 0983 830 024
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP HẢO
CHÙA LÁNG CÁT RATANARANGSI (Khmer)
KHU PHỐ 4, phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá
ĐT: 077. 863 786
Trụ trì: Hòa thượng DANH NHƯỜNG
CHÙA SURIVANSA SURIYA (Khmer)
36 Cao Thắng, khu phố 3, phường Vĩnh Lợi, huyện Rạch Sỏi, thị xã Rạch Giá
ĐT: 077. 864 270; 0913 790 192
Trụ trì: Tỳ khưu DANH DĨNH >>> người nhận đã chết
CHÙA SÓC XOÀI RAJAKUSALA BOMPENHJAYA (Khmer)
Xã Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
ĐT: 077. 842 741
Trụ trì: Tỳ khưu DANH PHẢN
LÂM ĐỒNG
CHÙA ĐỊNH QUANGThôn Phú Thạnh, xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
ĐT: (063. 622 257
Trụ trì: Tỳ khưu Pháp Lực.
QUẢNG NAM
CHÙA NAM QUANG430 Cửa Đại, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.
ĐT: 0905370514
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP CAO
CHÙA THÁI BÌNH
Xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
CHÙA GIÁC VIÊN
Xã Bình Đào, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Trụ trì: Tỳ kheo Giới Hỷ.
SÓC TRĂNG
CHÙA KH'LEANG (Khmer)71 đường Lương Định Của (Mậu Thân), thị xã Sóc Trăng
ĐT: 079. 821 340
Trụ trì: Tỳ khưu TĂNG NÔ
CHÙA MAHATUP (Chùa Dơi, Mã Tộc) (Khmer)
73-B đường Lê Hồng Phong, phường 3,
Thị xã Sóc Trăng
TIỀN GIANG
CHÙA PHÁP BẢO44/448 Lý Thường Kiệt, phường 5, Tp.Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ÐT: 073. 878 169 - 073. 878 168
Trụ trì: Tỳ khưu BỬU HIỀN
CHÙA PHƯỚC HẢI (Tân Hiệp)
261/4 Ấp Rẩy, thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
ÐT: 073. 831 066
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP NGỘ
CHÙA ÐÔNG PHƯƠNG
QL 1, số 317,khu 5, thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 073. 916 722
Trụ trì: Tỳ khưu CHÍ THÀNH
CHÙA LINH CỔ
Ấp Thân Hoà, thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 073. 3934 777 - 0918 609 435
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP GIỚI
TRÀ VINH
CHÙA BỬU CHÂU70 Lý Tự Trọng, phường 4, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
Trụ trì: Tỳ khưu Thiện Giới
CHÙA SAMRONG-EK
Quốc lộ 53, khóm 6, phường 8, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
ĐT: 074. 842 168
Trụ trì: Tỳ khưu SANTIPALO HỘ TỊNH (Thạch Kim Ngân)
CHÙA ANGORAJAPURI (Chùa Ang, Ao Bà Om)
Quốc lộ 53, khóm 4, phường 8, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
ĐT: 074. 842 062; 0913. 659 376
Trụ trì: Hòa thượng CANDASIRI NGUYỆT QUANG (Thạch Sóc Sang)
CHÙA KAMPONGNIGRODHA KOMPONG CHRÂY (Chùa Hang)
Khóm A, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
ĐT: 074. 872 579
CHÙA SUVANNAVIJAYA CHRAYKOK (còn có tên dân gian là Chùa Bà Nhì)
Ấp Bà Nhì, Xã Đôn Xuân, Huyện Trà Cú, Tỉnh Trà Vinh.
Trụ Trì: Tỳ Kheo Thạch Sa Mi
VĨNH LONG
CHÙA VIÊN GIÁC50/5 Trần Phú, phường 4, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Trụ trì: Tỳ khứu GIÁC GIỚI
CHÙA SIÊU LÝ (Vĩnh Long)
162/8 Ðường 14-9, phường 5, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
ÐT: 070. 823 885
Trụ trì: Tỳ khưu GIÁC SƠN
CHÙA BỬU QUANG (Vĩnh Long)
Xã Mỹ Thanh Trung, thị trấn Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
CHÙA HẠNH PHÚC TĂNG SANGHAMANGALA
Ấp Trung Trạch, xã Trung Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Tỳ khưu Sơn Ngọc Huynh
TỊNH XÁ NGỌC ĐĂNG
Ấp Phú Tiên, xã Trung Nghĩa, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
ĐT: 070. 871 518
Trụ trì: Tỳ khưu Minh Thảo
THIỀN VIỆN THIỆN MINH
Xã Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
ĐT:
Trụ trì: Tỳ khưu Thiện Minh (0903 870 370).
CHÙA NHƯ PHÁP
Địa chỉ: chợ Cái Đôi, Mỹ Thuận, TP Vĩnh Long.
Trụ trì: Tu nữ Mỹ Hồng
* (Danh sách cập nhật ngày 13 tháng 7 năm 2014)
Chùa Nam Tông - hot - Phật sự - Top
(Lấy từ bài giảng „10 Kiết Sử” của Hòa Thượng Giới Đức - Youtube)
https://www.youtube.com/watch?v=Edq8G11daFM
[Phút thứ 1:57:00]
Hỏi:
… Những sự kiện sự vật cách đây hai ngàn mấy trăm năm làm sao còn lưu truyền đến giờ này, và với cái hình thức mà người ta nói đây là Xá Lợi của Phật thì với cặp mắt sức tu chưa đủ để kết luận con nghĩ làm sao Xá Lợi có thể tồn tại qua hai ngàn mấy trăm năm để bây giờ người ta lưu giữ thờ phụng.
Đáp:
Cho đến năm hai ngàn tôi cũng không tin Xá Lợi… Tôi cũng dám nói mình là con người Căn Cơ Bậc Trí, nên khi tu học là nghi ngờ chỗ này, nghi ngờ chỗ kia, đủ thứ nghi ngờ, nghi ngờ Xá Lợi, không tin Xá Lợi.
Năm hai ngàn tôi với sư huynh Viên Minh, hai vị sư đệ, cùng mấy vị Phật tử nữa là 8 người đi hành hương đất Thái. Sau khi thăm Băng Cốc và các chùa xung quanh, chúng tôi đi lên miền Bắc Thái.
Nghe nói (ở đó) có một ngôi chùa rắt linh thiêng. Tới nơi thấy một cái tháp cũ kỹ… Ai cũng nói bảo tháp đó rất linh nghiệm. Người nào cầm một cái hũ đựng Xá Lợi để trên đầu và (khấn) với tâm thành kính thì Chư thiên sẽ bỏ Xá Lợi vào cho. Tương truyền như vậy. Thì huynh đệ và Phật tử đi, cũng đi (vòng) tay phải ba vòng. Đi ba vòng xong thì (bỏ hũ) xuống dòm thử, không thấy chi cả.
Rồi mới có may mắn là trong chùa có một người tu nữ người Việt đã tu tập ở đó 50 năm, gốc là đệ tử của ngài Hộ Tông. Bây giờ bà là trưởng lão 90 tuổi rôi. Trong chùa ai cũng kính trọng gọi bà là mẹ. Thấy đoàn chư tăng người Việt qua trong đó có đệ tử của ngài Hộ Tông, bà mừng lắm. Bà mới nói là bà ở đây tu tập, ban đêm thì thiền định để cầu nguyện Xá Lợi đang còn rải rác khắp nơi trên thế giới: chỗ này bị động đất, chỗ kia bị đào bới, bị chiến tranh, chỗ này bị địa chấn, hoặc bị người ta ăn trộm ăn cắp, cho nên tất cả những Thánh địa thuở trước bị điên đảo hoặc bị mất tất cả những dấu tích cũ... thì mong chư thiên, thọ thần, nhất là chư thiên thấy nơi nào Xá Lợi trong tình trạng bất ổn thì mong quý ngài mang về đây để tôi cúng dường lại cho ngững người có tâm tu học. Khi nào bà cũng cầu nguyện như vậy.
Bà thiền định mấy chục năm trời để cầu nguyện một việc duy nhất.
Ví dụ như hôm nay bà lên tháp xét được năm-bảy viên, thì có một phái đoàn từ Đức qua thỉnh Xá Lợi, thì bà lấy số Xá Lợi đó cúng dường. Cúng đường xong bà lại cầu nguyện tiếp. Cả cuộc đời bà chỉ làm có một việc duy nhất như vậy.
Khi chúng tôi qua thì bà nói hôm qua vừa cúng dường cả cho phái đoàn rồi, sợ không còn nữa. Nhưng bà vẫn cho người tu nữ bắc thang lên coi lại. Khi (tu nữ) đem xuống đếm được có 42 viên, rồi chia cho phái đoàn đem về thờ.
Thì (lúc đó) trong người cũng cảm thất có một thay đổi gì đó.
https://www.youtube.com/watch?v=Edq8G11daFM
[Phút thứ 1:57:00]
Hỏi:
… Những sự kiện sự vật cách đây hai ngàn mấy trăm năm làm sao còn lưu truyền đến giờ này, và với cái hình thức mà người ta nói đây là Xá Lợi của Phật thì với cặp mắt sức tu chưa đủ để kết luận con nghĩ làm sao Xá Lợi có thể tồn tại qua hai ngàn mấy trăm năm để bây giờ người ta lưu giữ thờ phụng.
Đáp:
Cho đến năm hai ngàn tôi cũng không tin Xá Lợi… Tôi cũng dám nói mình là con người Căn Cơ Bậc Trí, nên khi tu học là nghi ngờ chỗ này, nghi ngờ chỗ kia, đủ thứ nghi ngờ, nghi ngờ Xá Lợi, không tin Xá Lợi.
Năm hai ngàn tôi với sư huynh Viên Minh, hai vị sư đệ, cùng mấy vị Phật tử nữa là 8 người đi hành hương đất Thái. Sau khi thăm Băng Cốc và các chùa xung quanh, chúng tôi đi lên miền Bắc Thái.
Nghe nói (ở đó) có một ngôi chùa rắt linh thiêng. Tới nơi thấy một cái tháp cũ kỹ… Ai cũng nói bảo tháp đó rất linh nghiệm. Người nào cầm một cái hũ đựng Xá Lợi để trên đầu và (khấn) với tâm thành kính thì Chư thiên sẽ bỏ Xá Lợi vào cho. Tương truyền như vậy. Thì huynh đệ và Phật tử đi, cũng đi (vòng) tay phải ba vòng. Đi ba vòng xong thì (bỏ hũ) xuống dòm thử, không thấy chi cả.
Rồi mới có may mắn là trong chùa có một người tu nữ người Việt đã tu tập ở đó 50 năm, gốc là đệ tử của ngài Hộ Tông. Bây giờ bà là trưởng lão 90 tuổi rôi. Trong chùa ai cũng kính trọng gọi bà là mẹ. Thấy đoàn chư tăng người Việt qua trong đó có đệ tử của ngài Hộ Tông, bà mừng lắm. Bà mới nói là bà ở đây tu tập, ban đêm thì thiền định để cầu nguyện Xá Lợi đang còn rải rác khắp nơi trên thế giới: chỗ này bị động đất, chỗ kia bị đào bới, bị chiến tranh, chỗ này bị địa chấn, hoặc bị người ta ăn trộm ăn cắp, cho nên tất cả những Thánh địa thuở trước bị điên đảo hoặc bị mất tất cả những dấu tích cũ... thì mong chư thiên, thọ thần, nhất là chư thiên thấy nơi nào Xá Lợi trong tình trạng bất ổn thì mong quý ngài mang về đây để tôi cúng dường lại cho ngững người có tâm tu học. Khi nào bà cũng cầu nguyện như vậy.
Bà thiền định mấy chục năm trời để cầu nguyện một việc duy nhất.
Ví dụ như hôm nay bà lên tháp xét được năm-bảy viên, thì có một phái đoàn từ Đức qua thỉnh Xá Lợi, thì bà lấy số Xá Lợi đó cúng dường. Cúng đường xong bà lại cầu nguyện tiếp. Cả cuộc đời bà chỉ làm có một việc duy nhất như vậy.
Khi chúng tôi qua thì bà nói hôm qua vừa cúng dường cả cho phái đoàn rồi, sợ không còn nữa. Nhưng bà vẫn cho người tu nữ bắc thang lên coi lại. Khi (tu nữ) đem xuống đếm được có 42 viên, rồi chia cho phái đoàn đem về thờ.
Thì (lúc đó) trong người cũng cảm thất có một thay đổi gì đó.
Phật sự
(Xếp theo thứ tự thấp trước cao sau)
DỤC GIỚI (những người làm phước)
1. Tứ Thiên Vương: 1 ngày = 50 năm (cõi người - cn) / tuổi thọ trung bình 500 năm = 9.125.000 cn2. Đao Lợi (hay Cung Trời 33 hay Tam Thập Tam Thiên): 1 ngày = 100 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 1000 năm = 36.000.000 năm cn
3. Dạ Ma: 1 ngày = 200 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 2000 năm = 146.000.000 năm cn
4. Đâu suất: 1 ngày = 400 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 4000 năm = 584.000.000 năm cn
5. Hoá Lạc: 1 ngày = 800 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 8000 năm = 2.336.000.000 năm cn
6. Tha Hoá Tự Tại: 1 ngày = 1600 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 16000 năm = 9.344.000.000 năm cn
SẮC GIỚI (những người tu thiền)
- Sơ Thiền1. Phạm Chúng Thiên: 1/3 a tăng kỳ kiếp
2. Phạm Phụ Thiên: 1/2 a tăng kỳ kiếp
3. Đại Phạm Thiên: 1 a tăng kỳ kiếp
- 1 a tăng kỳ kiếp = 10 mũ 140
Nhị Thiền
1. Thiều Quang Thiên: 2 đại a tăng kỳ
2. Vô Lượng Quang: 4 đại a tăng kỳ
3. Quang Âm Thiên: 8 đại a tăng kỳ
Tam Thiền
1. Thiểu Tịnh Thiên: 16 đại a tăng kỳ
2. Vô lượng Tịnh Thiên: 32 đại a tăng kỳ
3. Biến Tịnh Thiên: 64 đại a tăng kỳ
Tứ Thiền
1. Vô Tưởng Thiên: 500 đại a tăng kỳ
2. Quảng Quả Thiên: 500 đại a tăng kỳ
3. Vô Phiền Thiên: 1000 đại a tăng kỳ
4. Vô Nhiệt Thiên: 2000 đại a tăng kỳ
5. Thiện Kiến Thiên: 4000 đại a tăng kỳ
6. Thiện Hiện Thiên: 8000 đại a tăng kỳ
7. Sắc Cứu Cánh Thiên: 16000 đại a tăng kỳ
Trong đó NĂM TỊNH CƯ THIÊN (Suddhàvàsa) - Chỉ cho năm cõi Trời cao nhất của Sắc giới. Các vị Thánh chứng được quả Bất lai được sinh lên các cõi Trời này, để tiếp tục tu hành chứng quả A la hán:
1. Vô phiền Thiên (Atappà)
2. Vô nhiệt Thiên (Avihà)
3. Thiện hiện Thiên (Sudassi)
4. Thiện kiến Thiên (Sudassà)
5. Sắc cứu cánh Thiên (Akanitthà)
Năm cõi Trời này chỉ dành cho Thánh nhân ở, không có lẫn lộn các loài chúng sinh.
Trong [Kinh Trường Bộ / 14. Kinh Ðại bổn] Đức Phật có nói với các Tỷ-khen rằng Phật đã ở các tầng trời Tịnh Cư Thiên
VÔ SẮC GIỚI (những người tu thiền)
1. Không Vô Biên Xứ: 20.000 đại a tăng kỳ2. Thức Vô Biên Xứ: 40.000 đại a tăng kỳ
3. Vô Sở Hữu Xứ: 60.000 đại a tăng kỳ
4. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: 84.000 đại a tăng kỳ
Tóm tắt từ bài giảng cuả Thầy Thích Trí Siêu:
https://www.youtube.com/watch?v=CUBt1olh7DM
https://www.youtube.com/watch?v=cnFoXEJjKhU
https://www.youtube.com/watch?v=CUBt1olh7DM
https://www.youtube.com/watch?v=cnFoXEJjKhU
Nghiên cứu - Phật sự - Thiên Giới
(Xếp theo thứ tự thấp trước cao sau)
DỤC GIỚI (những người làm phước)
1. Tứ Thiên Vương: 1 ngày = 50 năm (cõi người - cn) / tuổi thọ trung bình 500 năm = 9.125.000 cn
2. Đao Lợi (hay Cung Trời 33 hay Tam Thập Tam Thiên): 1 ngày = 100 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 1000 năm = 36.000.000 năm cn
3. Dạ Ma: 1 ngày = 200 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 2000 năm = 146.000.000 năm cn
4. Đâu suất: 1 ngày = 400 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 4000 năm = 584.000.000 năm cn
5. Hoá Lạc: 1 ngày = 800 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 8000 năm = 2.336.000.000 năm cn
6. Tha Hoá Tự Tại: 1 ngày = 1600 năm (cn) / tuổi thọ trung bình 16000 năm = 9.344.000.000 năm cn
SẮC GIỚI (những người tu thiền)
- Sơ Thiền
1. Phạm Chúng Thiên: 1/3 a tăng kỳ kiếp
2. Phạm Phụ Thiên: 1/2 a tăng kỳ kiếp
3. Đại Phạm Thiên: 1 a tăng kỳ kiếp
- 1 a tăng kỳ kiếp = 10 mũ 140
Nhị Thiền
1. Thiều Quang Thiên: 2 đại a tăng kỳ
2. Vô Lượng Quang: 4 đại a tăng kỳ
3. Quang Âm Thiên: 8 đại a tăng kỳ
Tam Thiền
1. Thiểu Tịnh Thiên: 16 đại a tăng kỳ
2. Vô lượng Tịnh Thiên: 32 đại a tăng kỳ
3. Biến Tịnh Thiên: 64 đại a tăng kỳ
Tứ Thiền
1. Vô Tưởng Thiên: 500 đại a tăng kỳ
2. Quảng Quả Thiên: 500 đại a tăng kỳ
3. Vô Phiền Thiên: 1000 đại a tăng kỳ
4. Vô Nhiệt Thiên: 2000 đại a tăng kỳ
5. Thiện Kiến Thiên: 4000 đại a tăng kỳ
6. Thiện Hiện Thiên: 8000 đại a tăng kỳ
7. Sắc Cứu Cánh Thiên: 16000 đại a tăng kỳ
VÔ SẮC GIỚI (những người tu thiền)
1. Không Vô Biên Xứ: 20.000 đại a tăng kỳ
2. Thức Vô Biên Xứ: 40.000 đại a tăng kỳ
3. Vô Sở Hữu Xứ: 60.000 đại a tăng kỳ
4. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: 84.000 đại a tăng kỳ
Tóm tắt từ bài giảng cuả Thầy Thích Trí Siêu:
https://www.youtube.com/watch?v=CUBt1olh7DM
https://www.youtube.com/watch?v=cnFoXEJjKhU
https://www.youtube.com/watch?v=CUBt1olh7DM
https://www.youtube.com/watch?v=cnFoXEJjKhU
Phật sự - Thiên Giới
Do duyên:
Trước năm 1975, có vị giáo sư người Thiên chúa giáo, khi đọc truyện Thái tử Tu-đại-noa bố thí vợ con, vị ấy đã lên án khá gay gắt trong một bài viết, nói rằng, hành động bố thí vợ con là quá đáng, là không có nhân tính (tôi nhớ có thể nhầm, ngại không đúng nguyên văn).
Vừa rồi, độc giả Thái Kim Du, có lẽ là một cư sĩ, trong một comment dưới bài viết của tôi trên trang mạng Thư Viện Hoa Sen, có nội dung sau:“Về việc bố thí cả vợ con của thái tử Vessantara, con chưa biết rõ lắm và con cũng không có ý kiến phản bác giống vị giáo sư thiên chúa giáo kia, nhưng con tha thiết mong được đọc bài viết của thầy, xin thầy từ bi đáp ứng”.
Không chỉ vị giáo sư Thiên chúa giáo kia, mà ngay chính Ni sư Thuần Chánh ở tại Ni viện Viên Chiếucũng có cảm nhận tương tự về chuyện thái tử Tu-đại-noa bố thí vợ con:
“Mới đây thôi, khi học đến phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa, chúng tôi thảo luận về sự bố thí và nhắc đến thái tử Tu-đại-noa. Cái gút nằm ở chỗ Thái tử cho hai đứa trẻ và công chúa.
Từ lúc biết đọc truyện cổ tích Phật giáo, tôi đã không thích câu chuyện này ở cái gút đó. Thái tử phát tâmbố thí, ông muốn cho lâu đài, thành quách, châu báu gì thì cứ việc cho, có muốn bố thí sinh mạng ông cho tròn hạnh nguyện cũng được, tôi không nói tới.
Nhưng cho hai đứa trẻ và công chúa là điều không thể chấp nhận. Cho vợ con là việc làm vô nhân bản, không thể coi hai trẻ và công chúa như một vật vô tình sở hữu. Và tôi không ưa được đoạn oái ăm đó, một đoạn lý đáng rất cảm động.
Vì chưa đồng ý, nên tôi chưa nhớ rõ vị giáo đạo đã mở gút đó thế nào cho hợp tình hợp lý. Tôi vẫn còn suy nghĩ, bởi đối với chúng tôi bố thí là hạnh đứng đầu trong "sáu ba-la-mật".
Truyện Thái tử Tu-đại-noa được kể với nhiều bút pháp khác nhau, cốt truyện có sai khác chút đỉnh, nhưng hễ đọc đến khúc quanh đó, tôi luôn bị "khựng" lại, thắc mắc không biết hiểu sao cho phải với hạnh nguyệncủa người xưa. Sự không ưa ngày trước không còn rõ nét nữa, chỉ còn lại một sự băn khoăn.
Có thể tôi tạm suy nghĩ như thế này:
Có lẽ ngày đó tôi không đứng trên tâm trạng và trái tim của người từ bỏ. Tôi chưa từng nghĩ mình phải từ bỏ cái gì hết. Và có cần thiết hay không sự "bố thí thái quá" đó trong cuộc đời này! Mãi cho đến khi, chữ "từ bỏ" nhen nhúm trong tim tôi, cái đốm lửa lập loè bé bỏng giữa đêm dày đặc đã làm chúng tôi trăn trở không ít.
Nghĩ đến thái tử Tu-đại-noa, cảm phục Thái tử bằng cuộc đời tu tập vụng về của mình. Ngẫm nghĩ lời dạy của ngài Triệu Châu: "Con nít ba tuổi cũng biết, ông già bảy mươi chưa chắc làm được".
Thật không dễ dàng buông đi cái gì đó khi nó là sở hữu của mình. Vật vô tình đã khó, huống là hữu tình - cái mà mình còn đang coi là niềm vui, là tin yêu, là điểm tựa.
Tôi vẫn ngồi bên bàn cân nghiêng ngửa, buồn rầu khi thấy thế giới nhẹ hơn trái tim mình, nghĩ đến thái tửTu-đại-noa và trái tim buông bỏ của Người mà thấm thía thuật ngữ "tu tập hạnh Bồ Tát".
Như vậy là chuyện bố thí vợ con của thái tử Vessantara (Tu-đại-noa) là sự thắc mắc của nhiều người, cả cư sĩ và tu sĩ. Do vậy, hôm nay, tôi xin trích lại một chương trong Mi-Tiên vấn đáp do HT. Giới Nghiêm soạn dịch, mà tôi là người mày mò nhuận sắc và hiệu chính mất gần hai năm mới hoàn thành. Đây là đoạn vấn đáp giữa đức vua Mi-lan-đà và tỳ-khưu Na-tiên về đề tài mà “trái tim chúng ta không yên ổn”. Hy vọng với trí tuệ siêu việt của tôn giả Na-tiên, không những giúp cho đức vua Mi-lan-đà thoả mãn mà cảchúng ta cũng được thở phào nhẹ nhõm!
Cẩn bút, MĐTTA.
(Vào đề, đức vua hỏi ngay):
- Thưa đại đức tất cả Bồ-tát thuở trước đều phải trải qua hoàn cảnh bố thívợ con, hay chỉ riêng Bồ-tát Vessantara của chúng ta thôi?
- Tâu, tất cả. Vị Bồ-tát nào hành ba-la-mật cũng đều bố thí vợ con như nhau cả thảy.
- Thế vợ con có hoan hỷ làm vật thí cho Bồ-tát Vessantara bố thí chăng?
- Tâu đại vương! Vợ thì hoan hỷ nhưng con thì không. Nếu trường hợpngười con ấy lớn, hiểu biết về nhân quả, phước báu, hiểu rõ tâm nguyệncủa cha thì nó sẽ hoan hỷ; còn nếu nó nhỏ quá, chưa biết gì thường thì khóc than rất bi lụy.
Vua Mi-lan-đà trầm ngâm giây lâu rồi nói:
- Câu chuyện Bồ-tát Vessantara bố thí vợ con, trẫm nghĩ ngợi rất nhiều. Nếu nói đấy là việc khó thì đúng là việc khó làm, thế gian không ai làm nổi, ngoại trừ Bồ-tát Vessantara! Nếu bảo đấy là sự nhẫn tâm, trái tim đã biến thành gỗ đá - thì chẳng ai có thể biện hộ dùm cho Bồ-tát Vessantara được, thưa đại đức!
- Đại vương xin cứ thẳng thắn cho. Lý do nào mà đại vương ghép tội Bồ-tát Vessantara như thế?
- Không dám. Trẫm đâu dám kết tội, nhưng rõ là trẫm có bảy điều muốn đem ra vấn nạn đại đức đây!
- Bần tăng xin rửa tai lắng nghe.
- Vâng! Đại đức hãy nghe đây:
Điều thứ nhất: Tại sao Bồ-tát lại đang tâm bố thí hai đứa con yêu của mình vốn là lá ngọc cành vàng - đến người bà-la-môn để làm tôi tớ cho gia đình hắn?
Điều thứ hai: Tại sao khi hai trẻ vùng khỏi sợi dây buộc của lão bà-la-môn, chạy đến bên Bồ-tát; khẩn cầu, van xin Bồ-tát giúp đỡ, hầu thoát khỏi bàn tay độc ác của lão ấy, Bồ-tát lại nguội lạnh, dửng dưng đến như thế?
Điều thứ ba: Trước đó, khi lão bà-la-môn cột trói hai trẻ, vừa lôi bừa đi, vừa đánh đập chúng trước mặt Bồ-tát, thế mà ngài chẳng động lòng? Chẳng động lòng, tim trơ trơ như gỗ đá thế kia, hay bảo đấy là ngài trú trong pháp xả ba-la-mật?
Điều thứ tư: Khi hai trẻ khóc than thống thiết rằng: "Cha ơi! Lão già bà-la-môn xấu xí kia đúng là quỷ dạ xoa! Con quỷ ấy xin hai con về là để ăn thịt. Vậy xin cha hãy cứu hai con!" Ôi! Con mình đau khổ như thế, van xin với nước mắt thống lụy như thế - mà Bồ-tát của chúng ta chỉ an ủi sơ sơ: Không có đâu, hai con, không có đâu, đừng sợ. Nói thế thì có được ích gì, chỉ như một nhát dao đâm sâu vào tình phụ tử đấy thôi.
Điều thứ năm: Khi đứa trẻ trai Jāli lăn lộn, vùng vẫy, ngã quỵ, gần bên chân Bồ-tát, ngước đôi mắt hoen đỏ, bi thảm, nức nở tâu xin rằng: "Thưa cha, xin cho em gái Kaṇhā của con được ở lại, nó còn nhỏ dại quá, nó không chịu nổi sự đau khổ này đâu. Con xin gánh chịu tất cả, con sẵn sàng để cho quỷ dạ xoa kia ăn gan, uống máu, ăn thịt con! Phải cứu em gái tội nghiệp của con, cha ơi!" Ôi! Trước sự thống thiết của con trai như thế mà Bồ-tát chẳng xúc động, chẳng nói năng gì, thì kể cũng lạ đời!
Điều thứ sáu: Khi bị lão bà-la-môn đánh đập, cột trói rất chặt, kéo bừa hai trẻ lê trên đất như hai con heo; trẻ Jāli chồm lên, lấy thân đỡ roi cho em, không ngớt chửi mắng lão bà-la-môn hèn hạ; thế mà Bồ-tát lại giả vờ quay mặt đi, chẳng rầy trách lão bà-la-môn một tiếng là cớ làm sao?
Điều thứ bảy: Lão bà-la-môn lôi hai trẻ đi xa dần, vấp phải đá, đụng phải cây, thân thể chúng bầm dập, rách nát, tươm máu, tiếng khóc la thảm thiết từ núi rừng hoang vắng vọng lại! Thế đó. Làm cha, làm mẹ có chút thương con thì trái tim chắc cũng vỡ ra làm trăm mảnh; thế mà Bồ-tát cũng dường như không, bước vào cốc, đưa tay khép cửa lại!
Thưa đại đức! Dù Bồ-tát Vessantara phát đại nguyện bổ túc ba-la-mật đi nữa, muốn thành tựu vô thượng Bồ-đề tuệ đi nữa, ngài cũng phải có trái tim biết thương xót con mình chứ? Ai nỡ nào đang tâm để cho con mình kêu gào, la khóc như vậy chứ? Thật trẫm không hiểu nổi.
(Đại đức Na-tiên trả lời):
- Đại vương nên nhớ rằng, việc bố thí vợ con của Bồ-tát, nhất là bố thí con, mà đại vương bảo là đang tâm, nhẫn tâm, không có trái tim ấy - đã chấn động mười ngàn thế giới trong cõi sa bà này! Chấn độngkhắp các cõi trời, người, Đế thích, a-tu-la, long vương, phạm thiên, dạ xoa, ma vương... Tất thảy, ai cũng nổi gai ốc, dựng tóc gáy; và ai cũng tán dương, khen ngợi không hết lời! Thế thì việc làm ấy là tốt hay xấu hở đại vương! Tốt hay xấu mà đại vương lại nghiêm khắc luận tội, trong lúc mười ngàn thế giới lại tán thán không hết lời?
- Trẫm hoài nghi về điều ấy!
- Vâng! Tốt hay xấu còn tùy thuộc cách nhìn cùng quan niệm riêng tư. Nhưng sự bố thí ba-la-mật của Bồ-tát có mười đức tính cao thượng, đại vương cũng nên biết, để từ đó rút ra kết luận cho mình.
- Xin cho nghe.
- Tâu, vâng. Mười đức tính ấy như sau:
Một là, sự bố thí siêu việt.
Hai là, dứt trừ sự thương yêu (bởi tâm ái luyến).
Ba là, thái độ dứt bỏ.
Bốn là, không ăn năn, hối hận.
Năm là, sự bố thí vi tế.
Sáu là, sự đoạn tuyệt.
Bảy là, sự bố thí to lớn.
Tám là, sự bố thí thế gian khó hiểu.
Chín là, sự bố thí khó khăn.
Mười là, sự bố thí chẳng ai so sánh được.
Sở dĩ mười ngàn thế giới rung động là do sức mạnh của mười đức tính ấy, tâu đại vương!
Đức vua Mi-lan-đà vẫn lắc đầu:
- Thưa, bao nhiêu đức tính cũng vậy thôi! Bao nhiêu sức mạnh cũng vậy thôi. Sự dứt bỏ, bố thí một cách cao thượng, siêu việt, được mười ngàn thế giới tán dương mặc dầu - trẫm vẫn nghi ngờ như thường! Sự bố thí mà không hề nghĩ đến sự đau khổ của kẻ khác, làm cho kẻ khác khóc than, la hét... mà có phước báu được sao? Đấy là con đường đi về cõi trời hay con đường đi vào địa ngục, đại đức?
- Tâu đại vương! Có thể điều ấy đúng khi ta chưa hiểu rõ lý nhân quả. Nhưng nếu ta hiểu rõ lý nhân quảrồi, đồng thời, thấy được cái đại nguyện và dụng tâm sâu kín của đức Bồ-tát thì ta sẽ không nghi ngờ gì nữa.
- Đại đức cứ tiếp tục.
- Tâu, vâng. Ví như có một đạo sĩ tu tập trong rừng sâu, hằng ngày trú tâm từ vô lượng, toát ra một năng lực mát mẻ bao phủ cả một vùng. Thế rồi, các loài hươu, nai... đến gần đạo sĩ mà chúng không hề sợ hãi. Bất chợt, sáng hôm kia, đạo sĩ tỏ vẻ hung dữ cầm cây đánh đuổi hươu, nai đi chỗ khác. Đại vương thấy thế nào, vị đạo sĩ đánh đập chúng sanh, vậy là độc ác, vậy là không có lòng từ sao?
- Thưa, đánh đập như vậy là không được rồi!
- Tâu đại vương! Chính đánh đuổi như thế, vị đạo sĩ đích thực mới có tình thương đối với hươu, nai! Vì sao vậy? Vị đạo sĩ nghĩ rằng, nếu chúng tưởng mọi người ai cũng đều hiền lành, vô hại, tìm đến chơi một cách vô tư như thế - thì có lúc, sẽ bị bọn thợ săn làm hại! Điều này chứng tỏ gì? Chứng tỏ hiện tại dường như đau khổ nhưng tương lai, sẽ lợi ích cho nó, an vui cho nó hơn. Câu chuyện bố thí hai con của Bồ-tát, chúng ta nên suy xét theo chiều hướng này thì may ra ánh sáng mới được lộ ra, tâu đại vương!
- Thưa, chưa được thuyết phục lắm, nhưng đại đức cứ cho xin ví dụ nữa đi.
- Tâu, vâng. Ví như có một sa-môn tu hành rất tinh tấn, có giới hạnh, bị té xuống hố gãy chân, gãy tay, máu ra rất nhiều. Có người thợ săn đi ngang, thấy vậy, khởi mối thiện tâm, muốn xuống cứu vị sa-môn ấy. Vị sa-môn nói rằng: "Tôi đau lắm, cứ để tôi chết ở đây!" Người thợ săn nói: "Ở đây tôi không có thuốc chữa, ngài hãy chịu khó, ráng chịu đau để tôi cõng về làng". Sau ba lần thuyết phục, vị sa-môn không chịu. Người thợ săn quyết giữ ý mình, quyết cứu sa-môn cho bằng được, bèn xuống hố cõng lên. Phàm tay gãy, chân gãy để yên thì ít đau, nhưng khi di chuyển, động cựa, các khớp xương sai lệch, đau đến tận xương tủy. Người thợ săn biết vậy, nhưng vì muốn cứu bậc tu hành, chẳng ngại đường xa vất vả, chẳng ngại tiếng rên la đau đớn của vị sa-môn, lúc đi bộ, lúc đặt lên xe kéo, chuyển được về làng. Lúc sắp xếp lại các khớp xương, bó giẻ để cột lại, vị sa-môn đau đớn bất tỉnh... Mấy ngày hôm sau, vị sa-môn ngỏ lờicảm ơn. Người thợ săn nói: "Ngài chịu khó tịnh dưỡng ở đây vài tháng, tôi nuôi ngài được. Khi nào lành, chân tay hồi phục, tha hồ lên núi mà tu!".
Tâu đại vương! Câu chuyện xảy ra như thế, ta biết rõ đâu nhân đâu quả, đại vương không lên án nghiêm khắc người thợ săn bất nhẫn trước sự đau đớn quằn quại của vị sa-môn chứ?
- Dĩ nhiên là không rồi. Chính nhờ chịu đựng được đau đớn ấy, vị sa-môn mới được lành bệnh an vui!
- Việc làm của người thợ săn - dường như lạnh lùng trước sự đau đớn của vị sa-môn - có được quả báonhư thế nào? Y sẽ mở cửa thiên đường hay y mở cửa địa ngục?
- Khách quan mà luận nhân quả, có lẽ người thợ săn được phước báu rất lớn, rất vĩ đại thưa đại đức!
- Sự khổ sở, đau đớn của hai trẻ, và cái tâm dường như lạnh lùng của Bồ-tát, cũng tương tự như vị sa-môn và người thợ săn vậy, tâu đại vương!
- Qua hai câu chuyện kể của đại đức, trẫm thấy nó có lý được một vài phần.
- Còn nữa, tâu đại vương! Ví như đại vương làm vua một nước, hôm nọ, đại vương muốn làm một công trình dẫn thủy nhập điền vĩ đại; sẽ có lợi ích rất lớn cho nông nghiệp, có thể đem đến hạnh phúc ấm nocho cả nước. Đại vương bèn ra một thông cáo rộng rãi là muôn dân phải đóng thuế bằng tiền, bằng lúa gạo hoặc bằng nhân công. Nếu ai không nộp sẽ bị trói, đánh đập hoặc bị giam cầm... lệnh ban ra, mọi người rất sợ hãi, ai cũng than khổ, than không có tiền, than không có lúa gạo! Người không nộp thì bị đánh đập, bị bắt, bị trói, bị giam cầm... lời ta thán của muôn dân kể sao cho xiết!
Tuy nhiên, đại vương vẫn lạnh lùng, cương quyết làm công trình thủy lợi, dẫu trải qua biết bao gian lao, vất vả; lại còn bị hàm oan, bị nhân dân lên án là khắc nghiệt, là bạo chúa... Sau khi công trình làm xong, muôn dân hoan hỷ, sung sướng; từ rày về sau, ruộng đồng khỏi lo thiếu nước, lúa ngập khỏi lo úng nước... Nông dân được mùa, mở hội ăn mừng!
Tâu, đại vương! Ví như đại vương làm việc ấy, đại vương quả thật là người không có trái tim, không xúc động trước sự ta thán của muôn dân, bá tánh nhỉ?
Đức vua Mi-lan-đà mỉm cười:
- Chính cái kết quả sau cùng đã biện hộ giùm cho trái tim của trẫm rồi!
- Hay lắm - Đại đức Na-tiên cũng mỉm cười - Chính kết quả sau cùng sẽ biện hộ giùm cho trái tim của Bồ-tát Vessantara, tâu đại vương!
- Thú thật với đại đức, câu chuyện kể của đại đức, mặc dầu là ví dụ, nhưng sao nó giống với vài công việc lớn mà trẫm thường làm cho quốc độ này. Ban đầu, vì không hiểu nên bá tánh rất ta thán, nhưng sau đó họ ca tụng không hết lời. Còn riêng phần trẫm, trẫm rất mãn nguyện. Kết quả mai sau, kiếp sau ra sao, trẫm cũng không cần biết nữa.
- Đều là phước báu trời, người rất vi diệu đấy, tâu đại vương!
- Thế giả dụ nhân dân đóng thuế rất sung mãn, trẫm lấy số tiền ấy mua vải cóc, lương thực, thực phẩm - để cúng dường, bố thí đến cho thập phương sa-môn, bà-la-môn, đạo sĩ, những người bần cùng đói khổ - thì có được phước báu không đại đức?
- Vẫn được rất nhiều phước báu, tâu đại vương! Thế đại vương còn hoài nghi gì về việc bố thí hai trẻ của Bồ-tát Vessantara nữa chăng?
- Vẫn còn hoài nghi, đại đức! Việc làm của trẫm về dẫn thuỷ nhập điền, bố thí, cúng dường mà lấy tiền thuế - mới nghe thì từa tựa như chuyện Bồ-tát bố thí hai trẻ: một bên thì bá tánh kêu than, một bên thì hai trẻ la khóc. Nhưng dù sao hai trẻ là con ruột của mình, đem cho đi thì hơi quá. Bố thí hai trẻ là việc làmquá trớn, quá đà, như quả cân nghiêng hẳn về một bên! Một bên là khối đá trơ lì, nặng nề, bên kia là trái tim nhẹ hẫng. Phước báu sau này thế nào không ai biết, nhưng chắc chắn thế gian thường tình không ai khen ngợi đâu, họ chê trách thậm tệ là dĩ nhiên vậy.
- Đại vương cứ nói nữa đi!
- Vâng! Đại đức hãy xem! Cái gì quá trớn, quá đà đều không tốt cả:
Cái xe chở nặng quá sức mình, trục, căm sẽ gãy.
Ăn vật thực quá nhiều, trúng thực mà chết!
Thuốc bổ quá liều, thành độc dược.
Mưa quá nhiều, lúa ngập chết.
Người bố thí với hằng tâm, hằng sản... nhưng thỉnh thoảng cũng phải biết tính toán, xem lại sự chi tiêu, xem lại gia sản - nếu không, sẽ khánh tận.
Nắng quá gắt, quá nhiều, quả đất sẽ nứt nẻ.
Người có lòng tham ái, tham dục quá nhiều, có thể đưa đến điên loạn.
Tham lam của cải, bạc tiền nhiều sẽ dẫn đến trộm cắp, cướp của, giết người.
Người ham nói, nói nhiều, dễ bị lỗi lầm.
Lũ lớn quá sẽ vỡ bờ.
Người học nhiều quá dễ loạn tâm, loạn trí.
Người dũng cảm quá thì yểu thọ...
Thưa đại đức! Quá trớn, quá đà... đều đưa đến kết quả xấu, bố thí hai trẻ cũng là cái gì nằm trong định luật tất yếu ấy.
- Tâu đại vương! Cái gì quá trớn, quá đà, quá nhiều như đại vương kể thì chẳng đem đến kết quả tốt đẹp. Nhưng cũng có những cái quá nhiều, quá mạnh, quá to lớn... chúng không nằm trong "định luật tất yếu" của đại vương thì sao?
- Xin cho nghe!
- Tâu, vâng! Ví dụ như:
Người thắng cuộc cuối cùng qua các trận đô vật, được mọi người tán thưởng, chắn hẳn là tay đô vật mạnh nhất.
Quả đất to lớn, vĩ đại - nhờ vậy, nó là nơi nương tựa, che chở, nơi sinh sống cho con người, muôn thú, cỏ cây!
Hư không vĩ đại quá, nhờ vậy, nó mới bao dung được quả đất, trăng sao!
Sư tử uy dũng quá nó mới làm chúa sơn lâm!
Ngọc māṇi quý báu quá nó mới đứng đầu trân châu thất bảo, thành tựu được ước muốn của con người.
Đức vua cao sang và thắng phước nên đứng đầu cả trăm họ, muôn dân!
Kim cương cứng rắn quá, vật gì nó cũng cứa đứt được.
Tỳ-khưu giới đức cao thượng quá nên dạ xoa, a-tu-la đều phải quỳ mọp dưới chân.
Đức Phật tối thượng quá nên tam giới không có ai sánh bằng...
Đại vương, tương tự như thế, việc bố thí hai trẻ là việc khó làm, là chuyện quá hy hữu, quá vĩ đại, tạo nên năng lực quá lớn, quá mạnh - nên sẽ có phước đức rất thù thắng, rất vi diệu, chấn động cả mười ngàn thế giới, làm cho người, trời, Đế thích, phạm thiên, a-tu-la, long vương, dạ xoa... không hết lời tán dươngkhen ngợi. Và việc Bồ-tát bố thí đặc thù, vô thượng ấy - quá đà, quá trớn ấy, chính là nhân duyên thành tựu quả vị Chánh đẳng giác đấy, tâu đại vương!
Đức vua Mi-lan-đà vô cùng thán phục:
- Trí tuệ của đại đức quả là vô biên, vô lượng. Những ví dụ của trẫm đưa ra dường như là đẩy đại đức đến chân tường; thế mà, cũng những ví dụ tương tự, đại đức lại tạo sức bật trở lại, làm cho trẫm không còn chỗ mà thối lui. Thật là khâm phục vậy.
Đại đức Mi-lan-đà khiêm tốn:
- Đại vương đừng làm cho bần tăng thêm hổ thẹn. Chính nhờ đại vương đã gợi ý cho bần tăng đấy thôi. Còn nữa, ý đại vương còn muốn xác định là bố thí không được quá trớn, quá trớn kết quả sẽ xấu. Bần tăng không nghĩ thế, tuy nhiên, vẫn có những giới hạn nhất định. Có những bố thí mà kết quả của nó sẽ là bốn đường ác đấy, tâu đại vương!
- Xin cho nghe.
- Tâu, vâng. Có mười trường hợp không nên bố thí như sau:
Một, cho người nữ đến người nam để thỏa mãn dâm dục.
Hai, cho bò cái đến bò đực.
Ba, cho rượu hoặc chất say.
Bốn, cho hình ảnh, hình vẽ khiêu dâm.
Năm, cho khí giới.
Sáu, cho thuốc độc.
Bảy, cho xiềng xích để người ta trói, giam cầm kẻ khác.
Tám, cho gà mái đến gà trống.
Chín, cho heo cái đến heo đực.
Mười, cho bàn tính sai, cân đo lường sai, để người ta lường gạt nhau!
Đấy là mười loại bố thí mà người trí thức không làm vì nó là chìa khóa mở cửa đi vào ác đạo. Còn các loạibố thí khác thì tùy sức, tùy nghi, phải thế không đại vương?
- Có lẽ vậy.
- Thế thì có ấn định một ranh giới nào nữa trong việc bố thí không đại vương?
- Trẫm không rõ lắm.
- Ví dụ như cơm nước, y phục, chỗ ở, chiếu đệm, gường ghế, vườn ruộng, tôi trai, tớ gái, trâu bò, gà, vịt... đều có thể bố thí được chứ?
- Thưa, vâng.
- Ví dụ cho tài sản, của cải, bạc tiền, một trăm đồng tiền vàng, một ngàn đồng tiền vàng... hẳn là được chứ?
- Thưa, vâng. Có quyền bố thí cả tay, chân, tim, óc... và luôn cả sanh mạng mình nữa, thưa đại đức - nếu biết trú tâm vô lượng!
Đại đức Na-tiên nói:
- Đại vương bảo bố thí cả tay, chân, tim, óc và luôn cả sanh mạng đều được - thì sao Bồ-tát Vessantara bố thí vợ, con - Đại vương lại bảo là quá đà, quá trớn, không được?
- Đại đức cứ nói.
- Một người cha nợ nần, vì quá nghèo khổ túng bấn, bèn cho con đi ở thuê hoặc bán con cho người khác - là chuyện thế gian cũng thường lắm mà!
- Vâng!
- Thế có ai chê trách họ không?
- Có chứ! Nhưng rồi người ta cũng thông cảm họ hoàn cảnh quá đói nghèo.
- Cũng thế, tâu đại vương. Đức Bồ-tát tầm cầu vô thượng Bồ-đề tuệ, vì đói ba-la-mật, vì nghèo phước báu - nên phải bố thí vợ, con, đại vương cũng phải biết "thông cảm hoàn cảnh" của ngài chứ?
- Thưa, có lẽ vậy. Nhưng theo ý trẫm, bố thí cá nhân mình vẫn tốt hơn. Bố thí mình thì khỏi làm đau khổvợ con, vẫn là biện pháp hay nhất.
Đại đức Na-tiên giải thích:
- Người ta xin vợ, xin con mà mình lại đem cho mình là việc không hợp lẽ. Xin vật này mà đem cho vật khác là không hợp lẽ. Nhưng nếu có người xin chính mình thì ngài cũng không tiếc đâu. Giả sử không phải người mà là sư tử, cọp, beo, chó rừng... muốn xin ngài để ăn thịt, thì ngài cũng cho ngay, không hề tiếc sanh mạng. Đại vương nên nhớ rằng, đức Bồ-tát là miếng thịt chung cho tất cả chúng sanh đó sao?
Ví như trăm loài cây trong rừng đến mùa thì đơm hoa trổ trái, rồi xanh, rồi chín vàng. Trái cây chín vàng ngon ngọt ấy hằng để tự do cho muông thú, muôn chim, người đến đấy hái ăn tha hồ. Cũng như thế ấy là tâm của đức Bồ-tát khi phát nguyện ba-la-mật, tâu đại vương!
Trải qua hai mươi bốn vị Phật tổ, trải qua bốn a-tăng -kỳ và gần một ức kiếp như thế, Bồ-tát tu tập ba-la-mật vô lượng như thế; đã từng xả ly, dứt bỏ vô lượng ngai vàng, công danh, phú quý, tài sản, lúa gạo, xe cộ ruộng vườn, tôi trai, tớ gái, vàng ngọc... đến cho tất cả chúng sanh. Ngài lại bố thí tay, chân, tim, gan, mắt... và luôn cả sanh mạng mình nữa. Ngài cương quyết dứt bỏ, bố thí vật ngoại thân, cho đến nội thể, sanh mạng... cũng chỉ vì một mục đích vô thượng, đánh đổi bồ-đề tuệ, Chánh đẳng giác, tâu đại vương!
Ví như một vị quan tốt, thanh liêm, chánh trực, có tâm thương yêu dân. Vị ấy ở trong một triều đình có ông vua tàn bạo, sống đời xa hoa, phù phiếm. Dân chúng bị sưu cao, thuế nặng, đói khổ nhưng của cải, lương thực, vàng bạc của cung điện chất đầy như núi.
Cũng vì mục đích cứu khổ cho bao người, vị quan tốt kia bèn bán tất cả ruộng vườn, gia sản, tôi trai, tớ gái... để mua vải vóc, lương thực, vật thực... để chẩn bần, cứu đói cho chỗ này chỗ kia. Tiếng lành đồn xa, nhân dân ái mộ; họ lật đổ triều đình và suy cử vị quan tốt kia lên làm vua. Sau khi lên ngôi, vị tân quốc vương kia không tiếc của kho, đem phân phát hết cho dân, nhờ vậy, đời sống trong quốc độ thoát khỏi đói nghèo, dần dần cường thịnh.
Tâu đại vương! Việc làm của vị quan tốt kia cũng tương tự như việc làm của Bồ-tát Vessantara. Muốn cầu ngôi vị Chánh đẳng giác để cứu khổ cho chúng sanh ba cõi bốn loài thì ngài đâu có tiếc thứ gì? Đâu phải vì không thương vợ, xót con mà ngài bố thí vợ con? Chính đức Thế tôn, sau khi giác ngộ, ngài đã có nói một câu kệ với đại ý rằng:
"Này các thầy tỳ-kheo! Chính khi bố thí vợ con, không phải Như lai không thương yêu vợ con. Hai trẻ Jāli và Kanhā thông minh và ngoan ngoãn hết mực, công chúa Maddī hiền thục, đức hạnh nhất trên trần hoàn. Có con như thế, có vợ như thế mà đem bố thí, ruột Như lai cũng đứt từng khúc. Nhưng Như lai phải hướng đến cái cao xa, cái rộng lớn hơn: đấy là ngôi vị Chánh đẳng giác, đấy là tình thương không bến bờ đối với tất cả chúng sanh!"
Đại vương nên nhìn xa, thấy rộng, lặn vào chiều sâu thăm thẳm của câu chuyện hơn thế nữa!
- Vâng, vâng! Trẫm đang suy nghiệm đây, đại đức cứ tiếp tục câu chuyện đi!
- Tâu, vâng! Đại vương chớ nên lên án Bồ-tát dửng dưng, lạnh lùng. Đức Bồ-tát trước cảnh tượng đứt ruột ấy, đã âm thầm chiến đấu với chính mình. Ngài nuốt sự nhẫn nại ấy, sự chịu đựng ấy, lửa đốt ấy vào bên trong, nên sóng lòng trào sôi dữ dội - Đại vương đâu có biết. Chính khi Bồ-tát bước vào thảo am, khép cửa lại, là nhằm ngăn bớt tiếng kêu khóc của hai con từ núi rừng xa xôi vọng đến. Ngài đã không chịu nổi, muốn bịt hai tai lại. Nỗi "căm hận" lão bà-la-môn ác độc làm cho toàn thân ngài run lên, máu dồn dập, ngài phải thở bằng miệng, nước mắt tuôn tràn. Ồ! Không phải là nước mắt nữa mà chính là lệ máu rỉ ra vì xót thương hai con. Ngay khi ấy, một niệm sân khởi lên, một niệm sát khởi lên đối với lão bà-la-môn; nhưng Bồ-tát đã kịp thời xả ly, niệm tâm từ mát mẻ, một hồi lâu sau mới trấn tỉnh lại được!
Đại vương thấy đó. Đại vương thấy rằng, lòng xót thương hai trẻ của Bồ-tát đâu khác gì thế gian, đồng thời còn hơn cả thế gian nữa. Tại sao vậy? Vì khi bố thí dứt được hai trẻ thì chí nguyện của ngài sẽ thành tựu, đồng thời hai trẻ sẽ được sung sướng và hạnh phúc hơn. Một việc làm mà thành tựu hai lợi ích, đại vương có biết chăng?
- Đại đức hãy giảng giải thêm. Cái lợi ích thứ nhất, tức là thành tựu bố thí ba-la-mật thì trẫm rõ rồi; nhưng còn lợi ích thứ hai: sự sung sướng và hạnh phúc của hai trẻ, trẫm hồ nghi lắm! Cho con để làm tôi tớ mà gọi là sung sướng, hạnh phúc ư?
- Tâu đại vương! Hai trẻ vốn là cành vàng lá ngọc, ở trên nhung lụa thế mà phải sống đời ăn trái chua, củ sống, hẳn là rất khổ sở vậy. Do có thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Bồ-tát biết rõ số phận tương lai của hai đứa trẻ. Thứ nhất là hai trẻ không thể làm tôi đòi hầu hạ ai. Thứ hai, rồi hai trẻ sẽ được gặp lại thái thượngphụ ở kinh thành, sẽ thoát khỏi cảnh đói khổ ở rừng sâu!
- Có thật thế không, đại đức?
- Thật ra, Bồ-tát còn biết nhiều hơn thế nữa. Ngài biết rằng rồi "ông nội" sẽ chuộc lại hai trẻ. Ngài biết rằng, vì lý do hai trẻ về kinh đô nên vua cha sẽ thỉnh ngài về để kế vị ngôi vương. Đó là cơ hội tốt để ngài lo cho hạnh phúc muôn dân, đồng thời bổ túc ba-la-mật cho mình. Ngài còn biết rằng, lão bà-la-môn tuổi thọ không còn được bao lăm, phước duyên ít, kiếp phận hèn hạ chẳng thể nào bắt hai trẻ làm tôi tớ, dù chỉ một ngày, tâu đại vương!
- Thưa, các việc trên là có thể, nhưng việc dưới, việc Bồ-tát biết lão bà-la-môn vì phước duyên ít, chẳng thể bắt hai trẻ làm tôi tớ dù chỉ một ngày, là sao ạ? Lấy gì làm bằng chứng?
- Tâu đại vương! Bằng chứng về lãnh vực này thì bần tăng đành chịu. Tuy nhiên bần tăng sẽ đưa ra ở đây rất nhiều ví dụ xoay quanh vấn đề ấy. Và có lẽ từ những ví dụ ấy đại vương sẽ tự giải đáp thắc mắc cho mình chăng?
- Trẫm đồng ý!
- Tâu, ví dụ như mặt trời, mặt trăng, nó to lớn, vĩ đại, nhiều oai lực; vậy ai trên thế gian này có khả năng lấy mặt trời, mặt trăng ấy đặt vào rương, vào thùng để làm đèn chiếu sáng không?
- Chẳng thể được đâu, đại đức!
- Lại nữa, ví như viên ngọc māṇi quí báu của đức Chuyển luân Thánh vương, rất to lớn, hào quang chói lọi, chiếu sáng vô ngại cả hằng do tuần; có người khởi tâm muốn ngăn hết hào quang của ngọc māṇi, bèn lấy một tấm vải bọc lại, hy vọng rằng làm như vậy ngọc māṇi sẽ không còn tỏa sáng nữa. Đại vương nghĩ thế nào, người kia có thể đạt được ước nguyện chăng?
- Thật không thể, đại đức! Ngọc māṇi vẫn tỏa sáng hào quang như thường!
- Còn nữa, ví như voi chúa Uposatha có màu trắng như tuyết, thanh khiết, cao sang; được trang điểm châu báu rực rỡ, có thân hình uy nghi to lớn dị thường. Là báu vật chỉ phát sanh đến cho các bậc chân mạng đế vương hoặc cho các vị có phước đức thù thắng. Có người nghèo khổ kia khởi tâm muốn bắt bạch tượng ấy về nuôi ở nhà mình. Kẻ kia có làm được việc ấy không, đại vương!
- Thật là một ý nghĩ cuồng vọng, được sao mà được, đại đức!
- Còn nữa, ví như rồng chúa Nandopananda có oai lực lớn, sức mạnh lớn, nó to lớn cho đến đổi có thể quấn bảy vòng quanh núi Sineru. Có người sắm một cái đãy, định bắt nhốt rồng chúa kia. Việc làm ấy là thế nào hả đại vương?
- Thưa, có lẽ hắn ta là người điên!
- Tâu, đại vương! Lão bà-la-môn đến xin hai trẻ để về làm tôi tớ cho mình là việc làm của người ngu, kẻ cuồng vọng, là người điên... Tương tự như muốn lấy mặt trời mặt trăng đặt vào thùng, lấy vải bọc ngọc māṇi mong ngăn ánh sáng, bắt voi chúa Uposatha, về nhà nuôi, bắt rồng chúa Nandopananda nhốt vào đãy! Đấy là những việc làm không thể. Lão bà-la-môn ngu hèn, thiếu phước kia chẳng thể bắt hai trẻ làm tôi tớ dù chỉ một ngày, tâu đại vương!
- Thưa, các ví dụ kia nêu bật là những việc làm bất khả, nhưng ý nghĩa cuối cùng trẫm vẫn chưa lãnh hội.
- Tâu, vâng! Dĩ nhiên Hy-mã-lạp-sơn là vua của muôn núi, cao năm trăm do tuần, dài rộng ba trăm do tuần, tổng cộng có tám vạn bốn ngàn đỉnh cao. Nó cao đến chót vót tầng mây, là nơi rót đầy năm con sông lớn, hằng trăm ngàn, hàng ức triệu cây cối, thảo mộc, muôn thú... nương tựa để sinh sống...! Đại vương! đại vương nghĩ như thế nào, nếu phước đức của hai trẻ được tu tạo ba-la-mật từ vô lượng kiếp, khả dĩ làm con của vị đại Bồ-tát có thể được ví như Hy-mã-lạp-sơn kia?
- Điều này thì có thể hình dung được. Phước đức của hai trẻ, nếu chất chồng lại thì Hy-mã-lạp-sơn nọ còn nhỏ bé lắm, thưa đại đức?
- Vậy là rõ. Phước đức của hai trẻ vĩ đại như thế thì có thể nào làm thân tội mọi cho lão bà-la-môn nghèo hèn, hạ liệt, ít phước kia chứ?
- Nghe thì hữu lý nhưng vẫn chưa thuyết phục được trẫm, thưa đại đức.
- Thật ra, những ví dụ của bần tăng đại vương đã hiểu. Đại vương đã hiểu rằng, người hạ liệt, thiếu phước chẳng thể nào sử dụng những báu vật chỉ để dành cho người có phước đức thù thắng. Tuy nhiên, đại vương cố ý hỏi là hỏi cho phần đông - thì bần tăng nào dám không tuân!
Tâu đại vương! Từ khi Bồ-tát Vessantara bố thí bạc vàng, của cải, vải vóc, lương thực, voi thần, xe ngựa, tôi trai, tớ gái... thì danh tiếng và uy đức của ngài đã lan xa nhiều quốc độ. Chẳng những lan xa nhiều quốc độ mà còn vang động đến cõi trời Đế thích, Phạm thiên, lan tỏa đến các cõi a -tu-la, càn-thát-bà, dạ xoa, long vương, cẩn-đà-la... Tất thảy trời người và chúng sanh hữu tình ba cõi không ai là không biết. Vợ và hai con của Bồ-tát đi theo sống giữa rừng thiêng nước độc làm đau xót cả hằng vạn trái tim cũng không ai là không biết.
Lửa cháy trên một ngọn núi cao trong một đêm tối trời, người ở rất xa vẫn nhìn thấy thì hai trẻ đi theo cha cũng như thế.
Cây Long Hoa ở núi Hy-mã-lạp mỗi lần trổ hoa, hương thơm lan xa xung quanh, các hướng, xa đến mười hai do tuần - hương thơm và danh tiếng của hai trẻ cũng y như thế.
Cộng với phước đức hai trẻ là con vua cháu chúa, với danh tiếng lững lẫy như thế, lão bà-la-môn bắt hai trẻ làm tôi tớ cho mình được chăng?
Lại nữa, đây là quyết định, là lời giải đáp sau cùng, có tính thuyết phục nhất, đấy là Bồ-tát biết rõ là "ông nội" sẽ chuộc cháu cưng của mình, nên trước khi đi, Bồ-tát đã căn dặn trẻ Jāli: "Này con, về thành, cha biết là ông nội sẽ chuộc hai con. Khi ông nội hỏi giá cả tiền chuộc, chính con phải trả lời; con trai là một ngàn lượng vàng, con gái không những một ngàn lượng vàng - mà còn tôi trai, tớ gái ngựa xe, trâu, bò... mỗi thứ mỗi một trăm nữa".
Và sự việc sau đó xảy ra y như thế. Lão bà-la-môn dẫn hai trẻ về nhà, khi nghe đến thân thế hai trẻ, cô vợ trẻ của lão bà-la-môn hoảng sợ, bắt lão dẫn hai trẻ trả lại cho triều đình.
Lão bà-la-môn được phần thưởng trọng hậu, ở trong một tòa lâu đài bảy tầng với tôi trai, tớ gái, ngựa, xe, trâu, bò, mỗi thứ một trăm. Nhưng y sống được bao lâu? Tâu đại vương, chỉ ngày đầu tiên thôi, y ăn một bụng no, trúng thực và chết. Tài sản được niêm phong, triều đình gọi quyến thuộc đến nhận, nhưng chẳng có một ai. Người vợ của lão ta, sau đó cũng không tìm thấy. Rốt lại, tài sản được sung vào quốc khố!
Điều ấy chứng tỏ gì, đại vương?
Chứng tỏ người thiếu phước không thể sử dụng phần phước quá với phước đức của mình!
Tóm lại, bố thí vợ và hai trẻ là giọt nước cuối cùng làm thành tựu công hạnh ba-la-mật; chấm dứt cuộc lưu đày, vợ và hai con trở lại đoàn tụ trong một quốc độ thịnh trị, hùng cường; Bồ-tát tiếp tục sứ mạng bồ-đề vô thượng. Nhân là vậy, sau trước viên dung! Đại vương còn mối nghi ngờ nào về chuyện bố thí vợ và hai con của Bồ-tát Vessantara nữa chăng?
- Hoàn toàn không! Tuyệt đối không! Cảm ơn đại đức vô cùng. Đại đức đừng có để tâm đến những câu hỏi khúc mắc của trẫm nhé. Trẫm cũng chỉ vì mình và mọi người đấy thôi!
- Tâu, vâng! Bần tăng hiểu!
(Trích câu 163 trong Mi-Tiên vấn đáp)
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Phật sự
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









































Comments