Select Menu

Top

Được tạo bởi Blogger.

Bài đăng nổi bật

NGÀY ĐÓ CHÚNG MÌNH

Toại Khanh Tôi đi xa mới về. Thùng thư trước nhà đầy ắp, cả cái hộp thư riêng ở bưu điện cũng không còn chỗ nhét. Ngoài phần lớn những thứ đ...

Tìm kiếm Blog này

random posts

Ads 180

Ads 180
Bán xe Ford Taurus

Popular Posts

Kinh Phật

Phật sự

Thần Thông

Thiên Giới

Chùa Nam Tông

Đọa Xứ

Video


Acariya Maha Boowa Nanasampanno 

Phạm Kim Khánh trích dịch quyển
Straight From The Heart


-ooOoo-

Mục lục

Tác giả
1. Ngôn Ngữ Của Tâm
2. Giáo Pháp Nhiệm Mầu
3. Thế Gian Ngục Tù Và Thế Gian Bên Ngoài




Tác giả


Ajahn Maha Bua
12/8/1913 - 30/1/2011
Thầy: Ajahn Mun
Acariya (Acharn) Maha Boowa (Bhikkhu Nanasampanno) là một Ðại Thiền Sư danh tiếng tại Thái Lan trong thời hiện đại. Ngài sanh trưởng trong một làng nhỏ bé của tỉnh Udon-thani và hiện là Sư Trưởng Thiền Viện Wat Pa Barn Tard.

Sau khi rời trường ở làng, Ngài vào chùa Wat Bodhisomporn, thọ giới Sa Di với Ðại Ðức Chao Khun Dhammachedi, học Giáo Pháp và tiếng Pali. Ðến khi đúng tuổi, Ngài thọ Cụ Túc Giới, rồi một thời gian sau vào rừng hành thiền. Ngày kia Ngài được hướng dẫn đến Ðại Ðức Acharn Mun (Bhuridatta Thera) và người ta nói là khi vừa gặp Ngài đã nhận ra đây là vị thầy của mình. Ngài theo học và hành với Ngài Acharn Mun trong chín năm, chí đến ngày Sư Thầy viên tịch vào lúc tám mươi tuổi thọ mới tự mình du phương thực hành trong các rừng núi hầu như cùng khắp xứ Thái.

Thiền Viện Wat Pa Barn Tard nằm trên một khu rừng độ 100 mẫu Anh, trong tỉnh Udorn miền Ðông Bắc xứ Thái, cách tỉnh lỵ khoảng hơn hai mươi cây số. Trong khu rừng rậm cây cao to lớn ấy rải rác đó đây có độ hai mươi tịnh thất nhỏ và riêng biệt, dành cho thiền sinh, phần lớn là chư Tăng mà một số là người Tây Phương.

Thiền viện tương đối nhỏ và xưa cũ nhưng giới luật rất trang nghiêm, thiền sinh sống dưới sự hướng dẫn của một vị thiền sư nổi tiếng là rất nghiêm khắc. Mặc dầu không xa xóm làng và mặc dầu Phật Tử phương xa xin dâng máy điện và hệ thống nước máy, Ngài Sư Trưởng từ chối vì muốn thiền sinh lối sống đơn giản: ngày một buổi cơm, tịnh thất nhỏ, phải đi kéo nước giếng để dùng, vào lúc tửng bưng sáng mỗi ngày phải vào làng đi bát, rất ít chuyện vãn, phần lớn chỉ sống đơn độc v.v... tất cả những điều ấy là để sống biệt lập, không nghĩ đến chuyện ngoài thế.

Thỉnh thoảng có người cung thỉnh Ngài đi Bangkok thuyết pháp. Một số các bài giảng ấy được thâu vào băng nhựa và lưu trữ tại Wat Bovorniwas.

Quyển Straight From The Heart phiên dịch những bài Pháp do Acharn Maha Boowa thuyết giảng bằng tiếng Thái tại Thiền Viện và đã được thâu vào băng nhựa. Trung tâm Narada xin phép chuyển ngữ để cống hiến quý đạo hữu Việt Nam.

^^^


1. Ngôn Ngữ Của Tâm


Ngài Ðại Ðức Acharn Mun dạy rằng tâm của tất cả mọi người đều có ngôn ngữ giống nhau. Dầu ta nói tiếng gì, dầu ta là người thuộc dân tộc nào, tâm chỉ là sự hay biết (lời người dịch: chữ tâm được phiên dịch từ phạn ngữ "citta". Bản Chú giải định nghĩa là cái gì hay biết một đối tượng). Vì lẽ ấy Ngài nói rằng tất cả tâm đều có ngôn ngữ giống nhau. Khi một ý nghĩ phát sanh, chúng ta hiểu nó, nhưng khi chúng ta diễn đạt ra thành lời, nó trở thành ngôn ngữ này hay ngôn ngữ nọ. Do đó chúng ta không thật sự thông hiểu lẫn nhau. Mặc dầu vậy, những cảm giác sâu kín trong lòng mỗi người đều như nhau. Giáo Pháp thích ứng với tâm một cách toàn hảo bởi vì Giáo Pháp không phải là ngôn ngữ của dân tộc đặc biệt nào. Giáo Pháp là ngôn ngữ của tâm. Giáo Pháp cùng ở chung với tâm.

Thỏa thích và đau khổ cùng ở chung với tâm. Những hành động tạo thỏa thích và đau khổ trước tiên được suy tư và phát xuất từ trong tâm. Tâm là cái gì hay biết hậu quả của những suy tư ấy, phát hiện dưới hình thức thỏa thích hay đau khổ. Tâm phải gồng gánh hậu quả những suy tư của chính nó. Ðây là lý do tại sao tâm và Giáo Pháp tương ứng với nhau một cách toàn vẹn. Dầu ngôn ngữ và quốc tịch của ta là gì, tất cả chúng ta đều có thể thấu hiểu Giáo Pháp, bởi vì Giáo Pháp và tâm là một cặp, do bản tánh thiên nhiên của nó.

Tâm là phần nồng cốt bên trong cơ thể, là phần chánh yếu, là cái cốt lõi, là thực chất, là tinh chất cơ bản bên trong thể xác. Nó là nền tảng. Những hiện tượng khởi phát từ trong tâm, như những tư tưởng khởi hiện rồi tan biến, hiện rồi biến, mãi mãi lặp đi và lặp lại. Nơi đây chúng ta đề cập đến tình trạng khuấy động của tâm. Khi tâm chao động, đó là một tư tưởng vừa mới được cấu tạo. Tưởng uẩn, vốn liên quan đến sự liên tưởng, hồi nhớ và nhận ra, được gọi là sanna. Những tư tưởng "dài" là sanna, tưởng uẩn. Tư tưởng "ngắn" là sankhara, hành uẩn. Nói cách khác, khi tư tưởng được cấu thành -- "blip" -- đó là hành uẩn, sankhara. Sanna, tưởng uẩn hàm xúc ý nghĩ nhận ra và đặt tên. Thức uẩn, vinnana, là sự ghi nhận mỗi khi có trần cảnh phát hiện và tiếp xúc với giác quan, như khi có một hình thể (sắc trần) giao tiếp với mắt (nhãn căn) ắt có sự thấy (nhãn thức). Tất cả những hiện tượng này luôn luôn tự nó phát sanh rồi hoại diệt, và Ðức Phật gọi là khandha, uẩn. Mỗi "đống" hay "nhóm" được gọi là khandha, uẩn. Năm uẩn (panca khandha, ngũ uẩn) này luôn luôn khởi phát rồi biến tan, không ngừng sanh diệt. Chí đến chư vị A La Hán cũng cùng ở trong trường hợp như vậy. giống hệt như một người thường bất cứ ở đâu. Chỉ có điểm khác là ngũ uẩn của các Ngài hoàn toàn trong sạch và đơn giản, không chứa chấp những ô nhiễm truyền lệnh cho các Ngài phải làm điều này hay suy tư điều nọ. Thay vì thế, ngũ uẩn của các Ngài tự do sinh hoạt theo bản chất giải thoát thiên nhiên của nó mà không bị bắt buộc phải suy tưởng thế này thế nọ như tâm của người thường nói chung. Ðể so sánh, ngũ uẩn của người thường giống như tù nhân trong ngục thất, luôn luôn bị sai khiến. Những tư tưởng, những ghi nhận, những nhận định và những suy diễn khác nhau của người thường luôn luôn bị ra lệnh, luôn luôn bị một năng lực ngoại lai nào bắt buộc phải phát hiện, suy tư, nhận định và diễn dịch như thế này hay thế nọ. Nói cách khác, nó bị ô nhiễm làm chủ, chỉ đường dẫn lối, sai khiến, cưỡng bách nó phải phát hiện.

Ngũ uẩn của chư vị A La Hán thì không phải vậy. Khi một tư tưởng cấu hợp, nó chỉ đơn giản cấu hợp. Một khi đã hợp thành, nó đơn giản tan biến. Không có một chủng tử để nuôi dưỡng nó tiếp tục, không có chủng tử đè nặng trên tâm, bởi vì không có gì cưỡng bách, bắt buộc nó phải như thế nào, không giống như ngũ uẩn mà bị ô nhiễm thống trị hay nằm dưới quyền lãnh đạo của ô nhiễm. Ðó là điểm khác biệt.

Nhưng bản chất của ngũ uẩn vẫn như nhau. Tất cả các uẩn mà chúng ta đề cập trên đây đều vô thường (aniccam). Nói cách khác, trạng thái bất ổn định và luôn luôn biến đổi là một phần dính liền theo bản chất thiên nhiên của nó, bắt đầu từ sắc uẩn, cơ thể chúng ta, và thọ uẩn, những cảm giác thỏa thích (thọ lạc), đau khổ (thọ khổ) và những cảm giác không thỏa thích không đau khổ (thọ vô ký). Các uẩn này phát sanh rồi hoại diệt, triền miên lặp đi lặp lại. Tưởng uẩn, sanna, hành uẩn, sankhara, và thức uẩn, vinnanana, cũng ở trong trạng thái luôn luôn sanh diệt, vốn là một phần dính liền với bản chất thiên nhiên của nó.

Nhưng sự hay biết thật sự -- vốn hợp thành nền tảng kiến thức của chúng ta về những sự vật khác nhau không ngừng sanh diệt -- thì không tan biến. Ta có thể nói rằng tâm không thể tan biến. Ta có thể nói rằng tâm không thể khởi sanh. Như vậy, một cái tâm mà đã được thanh lọc đầy đủ không còn vấn đề phiền phức nào liên hệ đến hiện tượng sanh và tử của thân và các uẩn; và như vậy không còn sanh nữa, ở đây hay ở đâu khác, không còn phát hiện trong những hình thể thô thiển như một cá nhân, hay một chúng sanh bởi vì tâm đã hoàn toàn trong sạch.

Nhưng còn những người mà tâm chưa được thanh lọc: Họ là những người còn trong sanh và tử triền miên, những người luôn luôn để mắt trông chừng nghĩa địa, và tất cả chỉ vì cái tâm không chết.

Vì lẽ ấy Ðức Thế Tôn ban truyền giáo huấn cho thế gian, đặc biệt là thế gian loài người, vì con người hiểu biết điều phải lẽ trái, biết điều nào là thiện và điều nào bất thiện; biết bảo tồn nuôi dưỡng cái này và sửa sai chữa trị cái kia; thông hiểu ngôn ngữ của Giáo Pháp mà Ngài giảng dạy. Vì lẽ ấy Ngài dạy thế gian loài người trên và vượt ra ngoài các thế gian khác. Ngài dạy để chúng ta có thể cố gắng chữa trị, sửa sai những gì gây thiệt hại và tổn thương, tách rời nó ra khỏi hành động, lời nói và tư tưởng, để chúng ta có thể gia công nuôi và bảo tồn những gì tốt đẹp đã sẵn có và tạo duyên, làm khởi phát những thiện pháp mà ta chưa có. Ngài dạy chúng ta dưỡng nuôi và phát triển những thiện pháp sẵn có để cung ứng chất dinh dưỡng cho tâm, làm cho tâm tươi tỉnh và an lành, nâng đỡ cho nó ở một mức độ đức hạnh khả quan, trau giồi thiện pháp, để khi tách rời khỏi thân xác hiện tại này và hướng về bất luận nơi nào hoặc cảnh giới nào cái tâm mà đã được dưỡng nuôi trong thiện pháp sẽ là một cái tâm tốt. Bất luận nơi nào mà nó đến nó sẽ đến một cách tốt đẹp. Bất luận ở nơi đâu mà nó được tái sanh vào nó sẽ tái sanh an lành. Bất luận sống ở cảnh giới nào, đó là cảnh giới nhàn lạc. Nó sẽ tiếp tục chứng nghiệm trạng thái an vui hạnh phúc cho đến khi tích tụ đầy đủ khả năng, tiềm lực và phước báo để vượt qua khỏi thế gian và chứng ngộ giải thoát.

Khả năng, tiềm lực và phước báo phải được tuần tự trau giồi và phát triển từ quá khứ đến hiện tại. Hôm qua là quá khứ của ngày hôm nay, hôm nay là vị lai của ngày hôm qua, mỗi ngày trong tất cả những ngày quá khứ và hiện tại ấy ta phải gia công dưỡng nuôi và phát triển thiện pháp, tuần tự từng bước tiến cho đến khi, nhờ sự hỗ trợ của thiện pháp, tâm vững chắc dũng mãnh để vượt thoát ra khỏi thế gian.

Một cái tâm như thế ấy không còn tái sanh nữa, dầu sanh vào cảnh giới nhàn lạc và vi tế nhất của chúng sanh, vốn còn tiềm tàng dấu vết của thực tại quy ước (sammati) -- đó là sanh và chết như chúng ta. Một cái tâm như thế ấy đã vượt ra khỏi những hiện tượng sanh và tử tương tợ. Ðó là tâm của chư Phật và chư vị A La Hán. Tích chuyện Ðại Ðức Vangisa cho ta một ý niệm về vấn đề này. Khi còn tại gia cư sĩ Ðại Ðức Vangisa có biệt tài là biết được vong linh của một người chết đã tái sanh vào cảnh giới nào, dầu người ấy là ai. Ta không thể nói ông là một phù thủy hay một thầy bói. Thật sự ông là một đại sư nắm vững vấn đề tâm lý. Khi có người chết ông lấy sọ của người ấy và gõ trên đó -- cốc! cốc! cốc! -- rồi tập trung tư tưởng... và biết rõ người này tái sanh về đâu. nếu người chết tái sanh vào địa ngục, hay cảnh Trời, làm thú hay làm ngạ quỷ ông ta có thể nói liền mọi trường hợp không chút do dự. Ông chỉ cần gõ trên cái sọ của người ấy.

Khi nghe bạn bè mách bảo rằng Ðức Phật còn tài giỏi hơn gấp mấy lần như thế ấy thì ông muốn mở rộng kiến thức, đến hầu Phật xin thọ giáo để học thêm về khoa này. Khi đến nơi Ðức Phật đưa cho ông cái sọ của một vị A La Hán để ông gõ thử, "Ðược rồi! Để xem ông thiện nam có thể nói người này đã tái sanh về đâu không."

Ðại Ðức Vangisa gõ vào cái sọ và lắng tai nghe. Im lặng. Ông gõ nữa và lắng nghe. Im lặng. Ông ngừng lại, suy gẫm. Im lặng. Ông tập trung tâm lực. Im lặng. Ông không thể tìm thấy chủ của cái sọ đã tái sanh về đâu. Hết phương, ông thành thật nhìn nhận rằng mình không thể biết người chết này tái sanh về đâu.

Lúc ban đầu vị cư sĩ mà sau này là Ðại Ðức Vangisa nghĩ rằng mình tài giỏi, thông minh và đã tinh thông lão luyện trong nghề nên có ý định đến so tài với Ðức Phật rồi mới xin thọ giáo. Nhưng khi đến nơi, Ðức Phật đưa cho ông cái sọ của một vị A La Hán để gõ -- và ngay tại đây ông thảm bại. Giờ đây thật sự ông muốn xin học thêm, nghĩ rằng sau khi gia công tu luyện ông sẽ còn tài giỏi hơn trong hiện tại nhiều -- quả thật đặc biệt! Sự việc đã xảy ra như vậy, ông xin theo học với Ðức Phật. Và Ðức Phật dạy ông khoa học. Ngài dạy ông một phương pháp -- nói cách khác, Ngài dạy ông khoa học của Giáo Pháp. Ðại Ðức Vangisa thực hành và gia công thực hành cho đến khi cuối cùng, đắc Quả A La Hán. Từ đó Ðại Ðức không còn hứng thú gõ vào sọ ai nữa, ngoại trừ cái sọ của chính mình. Một khi đã thấu rõ ràng thì vấn đề tự nhiên chấm dứt. Ðiều này gọi là "gõ đúng vào cái sọ".

Lần nọ Ðức Phật có nêu lên vấn đề cái tâm mà không còn tái sanh -- đầu lâu của người mà tâm đã được thanh lọc hoàn toàn. Dầu Ðại Ðức Vangisa có gõ vào đó bao nhiêu lần và dầu Ngài đã tinh thông lão luyện về khoa này đến đâu cũng không thể biết được cái tâm ấy tái sanh về đâu, bởi vì nơi chốn mà tâm hoàn toàn trong sạch tái sanh vào, quả thật không thể tìm biết. Trường hợp của Ðại Ðức Godhika cũng vậy: Câu chuyện này có thể là thức ăn tinh thần rất bổ ích. Ðại Ðức Godhika hành thiền, tiến bộ dần dần từng bậc, nhưng rồi bị trở ngại, thụt lùi. Tích chuyện thuật rằng Ngài thoái bộ sáu lần như vậy. Sau khi thất bại lần thứ bảy, vì tinh thần quá suy sụp Ngài dùng dao tự khứa cổ mình, nhưng không chết. Lúc tỉnh lại Ngài quán chiếu Giáo Pháp và đắc Quả A La Hán vào khoảnh khắc cuối cùng. Vắn tắt, đó là câu chuyện. Khi Ngài tịch diệt, đạo quân của Ma Vương kéo nhau đi tìm hương linh của Ngài. Nói một cách đơn giản, chúng quậy trời khuấy nước để tìm biết Ngài tái sanh về đâu, nhưng không thể được.

Lúc bấy giờ Ðức Thế Tôn mở lời, "Dầu có đào xới, tìm tòi hay tra hỏi thế nào đi nữa bọn ngươi sẽ không thể tìm ra hương linh của Godhika, con Như Lai, vốn đã viên mãn hoàn thành nhiệm vụ. Dầu có lật ngược, làm đảo lộn thế gian đi nữa cũng chỉ thế mà thôi, bởi vì điều ấy đã vượt ra ngoài phạm vi của thực tại quy ước." Làm sao Ma Vương Tâm Ác và đạo binh của Ma Vương có thể tìm được? Làm thế nào khả năng của người còn ô nhiễm trong tâm có thể hiểu biết được tâm lực của một vị A La Hán? Không thể được.

Trong phạm vi quy ước của người thế gian không ai có thể theo dõi con đường mà tâm của một vị A La Hán trải qua, bởi vì tâm của vị A La Hán đã vượt qua khỏi thế gian quy ước, mặc dầu vẫn giống như của ta. Hãy suy gẫm về điểm này: Dầu cái tâm chao động và chậm tiến của ta đi nữa, khi đã thanh lọc tuần tự, liên tục, không ngừng, không gián đoạn, một cách kiên trì không thối chuyển, nó cũng sẽ dần dần đến vi tế cùng tột. Ðến chừng đó chính trạng thái vi tế cũng sẽ tan biến -- bởi vì trạng thái vi tế cũng là thực tại quy ước -- chỉ còn lại bản chất vàng ròng thuần túy, bản chất uyên nguyên của Giáo Pháp, gọi đó là tâm thanh tịnh, hoàn toàn trong sạch. Chừng đó chính chúng ta cũng sẽ không còn vấn đề khó khăn nào nữa, như các vị A La Hán, bởi vì tâm của chúng ta đã trở thành siêu tuyệt, giống như tâm của những vị đã thành đạt giải thoát.

Tất cả tâm cùng loại ấy đều giống nhau, không có sự phân biệt nào chia cách nam và nữ. Nam tính hay nữ tính chỉ là vấn đề quy ước của thế gian. Ðối với tâm không có sự phân chia giữa nam và nữ, và tất cả, dầu là quý ông hay quý bà, đều có khả năng giống nhau để thực hành Giáo Pháp. Cả hai phái, nam và nữ, đều có khả năng thành đạt những tầng Thánh Quả khác nhau, dài dài suốt Con Ðường, cho đến mức giải thoát. Trong lãnh vực này không có hạn định nào cho bất cứ ai. Tất cả những gì cần thiết chỉ là phát triển đầy đủ năng lực và tiềm năng. Rồi tất cả mọi chúng ta đều có thể vượt sang bờ bên kia.

Vì lẽ ấy chúng ta nên tận lực rèn luyện tâm và trí. Tối thiểu đi nữa chúng ta cũng nên đạt đến tình trạng tĩnh lặng và an lạc, với bất luận đề mục hành thiền (hay công án) nào có thể ru dỗ tâm vào trạng thái vắng lặng, và từ vắng lặng phát sanh an lạc thanh bình và thoải mái bên trong. Thí dụ như pháp niệm hơi thở, vốn là đề mục rất phổ thông trong giới hành giả, hình như thích hợp với nhiều người hơn các đề mục khác. Nhưng dầu bất cứ đề mục nào, hãy lấy đó làm nguyên tắc căn bản, làm nơi ẩn trú, làm chỗ nương tựa cho tâm. Hãy áp dụng nó vào pháp hành để rèn luyện, làm cho tâm ngơi nghỉ và an lạc.

Khi tâm bắt đầu lắng động, chúng ta sẽ khởi sự nhìn thấy bản chất chánh yếu và giá trị của nó. Chúng ta sẽ bắt đầu nhận thức tâm là gì và tâm là thế nào. Nói cách khác, khi tất cả những thành phần của tâm tập trung lại và tụ hội vào một điểm duy nhất như chỉ đơn giản là sự hay biết bên trong nó thì đó được gọi là "tâm" (citta). Trạng thái gom tâm xảy diễn ở nhiều tầng lớp khác nhau, tương ứng với khả năng và những mức độ vi tế khác nhau. Cho dù tâm còn ở mức độ thô thiển đi nữa ta cũng có thể hiểu biết khi nó tụ hội lại bên trong. Khi tâm trở nên ngày càng vi tế hơn chúng ta sẽ hiểu biết trạng thái vi tế của nó -- "Tâm này thật là vi tế... Tâm này quả thật sáng ngời... Tâm này vô cùng tĩnh lặng... Tâm này thật vô cùng kỳ diệu" -- càng ngày càng thêm lên, tiến từng bước một, cũng chính cái tâm này!

Trong khi gội rửa và rèn luyện tâm nhằm đạt đến trạng thái vắng lặng, trong khi, với trí tuệ (panna), quán chiếu, nhìn vào và giải quyết những vấn đề khó khăn của tâm -- vốn là phương cách làm cho tâm tiến triển hay làm cho ta có khả năng thấu đạt thực tướng của tâm, từng bước một, bằng những phương tiện đề cập ở trên -- dầu tâm còn thô thiển thế nào, không nên lo ngại. Nếu chúng ta thật sự tinh tấn và chúng ta liên tục kiên trì, với cái vốn kiên trì nỗ lực chuyên cần ấy, trạng thái thô thiển sẽ dần dần phai mờ và tan biến. Trạng thái tâm vi tế sẽ dần dần phát hiện, do nhờ công phu thực hành và đức kiên trì tinh tấn của ta, chí đến khi chúng ta có đủ khả năng vượt qua khỏi bờ mê và thành tựu giải thoát bằng cách phá vỡ, đập tan nhiễm ô ra từng mảnh vụn. Ðây là điều chắc thật cho tất cả, nam cũng như nữ.

Tuy nhiên, trong khi ta chưa đạt đến mức độ có khả năng làm được như vậy, chớ nên lo ngại. Tất cả những gì cần làm trong hiện tại là phải giữ cái tâm trong khuôn khổ kỷ cương để nó có thể là nơi ẩn trú, là chỗ nương tựa cho chính nó. Còn thân này, chúng ta đã nương nhờ nơi nó từ thủa mới ra đời. Ai cũng biết như vậy. Chúng ta đã làm cho nó sống, nằm, ngồi, đi tiểu tiện, đại tiện, làm việc, sinh sống. Ta đã sử dụng nó và nó đã sử dụng chúng ta. Ta đã sai khiến nó và nó truyền lệnh điều khiển chúng ta. Thí dụ như chúng ta bắt nó làm việc và nó làm cho chúng ta đau khổ, đau chỗ này, nhức nơi nọ, và chúng ta phải tìm thuốc đễ chữa trị cho nó. Nó là người bị đau và nó là người đi tìm thuốc. Cũng nó là người giúp phương tiện. Và cứ thế, ngày này qua ngày khác, chúng ta tự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

Khó mà nói rõ là ai chịu trách nhiệm, thân này hay ta. Ðôi lúc chúng ta sai khiến nó, nhưng luôn luôn nó điều khiển ta. Bệnh hoạn, đói, khát, buồn ngủ: Tất cả chỉ là một khối đau khổ và phiền lụy trong đó cơ thể này không ngừng sai khiến chúng ta, và nó sai khiến từ mọi phía. Ta chỉ có thể điều khiển nó được đôi chút. Do đó, khi thời cơ đến, đúng lúc ta có thể điều khiển, hãy bắt nó hành thiền.

Vậy, hãy bắt tay vào việc. Ngày giờ nào mà cơ thể này còn sinh hoạt bình thường, dầu công việc có bề bộn hay nặng nhọc đến đâu, hãy tiến hành ngay. Nhưng khi thân không thể hoạt động bình thường như lúc bịnh hoạn, ta cần phải để ý xem nó có thể làm việc được đến đâu.

Còn cái tâm thì khác, hãy tiếp tục kiên trì tinh tấn, hãy nỗ lực không thối chuyển, bởi vì đó là nhiệm vụ chánh yếu của quý vị.

Từ thủa nào, đã quá lâu rồi, quý vị sống tùy thuộc nơi thân. Giờ đây nó đã hao mòn suy nhược, hãy hiểu biết rằng thân của quý vị đã mỏi mòn yếu kém -- phần nào còn có thể hoạt động, phần nào đã hết khả năng sinh hoạt. Qúy vị là người gánh chịu trách nhiệm. Quý vị hoàn toàn hiểu biết như vậy. Chính quý vị phải tự lo liệu và châm chước để giữ thăng bằng.

Nhưng cái tâm thì không cùng bệnh hoạn với thân. Tâm phải gia tăng cố gắng để tránh khỏi lỡ mất cơ hội thọ lãnh những lợi ích mà thân có thể tạo cho. Hãy nâng cao mức độ của tâm và khép nó vào khuôn khổ kỷ cương -- kỷ cương trong cuộc sống, kỷ cương lúc lìa đời. Bất luận nơi nào mà nó tái sanh vào, hãy làm cho nó nằm trong khuôn khổ mẫu mực, ở mức độ đạo đức thanh cao. Cái mà được gọi là phước báo (punna) không bao giờ phản bội niềm hy vọng và lòng trông đợi của quý vị. Phước báo lúc nào cũng sẽ cung cấp cho quý vị những hoàn cảnh thuận lợi đúng theo nghiệp lành tích trử và những tình trạng an vui hạnh phúc mà toàn thể thế gian đều ham muốn và không ai cho là quá đủ. Nói cách khác, điều mà thế gian hằng mong mỏi muốn được là tình trạng an lành, bất cứ loại an lành nào, và đặc biệt là trạng thái tâm an lành, phát sanh dần dần từng giai đoạn nhờ vào những nghiệp lành cao thượng và tốt đẹp.

Ðó là tình trạng an lành hợp thành phần nồng cốt hay tinh chất chánh yếu rất quan trọng bên trong tâm. Ta phải kiên trì nỗ lực trong khi thân này còn hoạt động, bởi vì khi kiếp sống đã đến mức tận cùng thì không thể làm gì được. Dầu có thành tựu được nhiều hay ít ta phải chấm dứt tạt thời điểm này. Chúng ta ngưng công việc, gác qua một bên, rồi gặt hái phần thưởng của việc làm -- trong một kiếp tới. Bất luận gì có thể làm, hãy làm ngay trong hiện tại. Nếu ta có thể vượt qua và thành đạt giải thoát, đó là mức cùng tột của tất cả những vấn đề khó khăn. Sẽ không còn gì lôi cuốn ta vào phiền lụy.

Nơi đây chúng ta đề cập đến tâm vì tâm là vấn đề căn bản sơ khởi. Chúng ta ra đi an lành hay không, hạnh phúc hay đau khổ tất cả đều chỉ do nơi tâm.

Cái mà người ta gọi là nghiệp bất thiện (akusala kamma) cũng nằm bên trong tâm và do nơi tâm tạo nên. Dầu ta còn nhớ nó không, hột giống đã gieo -- đã nằm bên trong tâm -- không thể ngăn cản nó trổ quả, bởi vì nó đã đâm chồi mọc rễ trong tâm. Chúng ta phải chấp nhận cái nghiệp của mình. Không nên chạy tội. Một khi đã tạo nghiệp thì nghiệp đã được tạo rồi, làm cách nào có thể chối cãi? Bàn tay đã viết ra chữ, vậy chính bàn tay phải bôi (tẩy) những chữ đã viết. Chúng ta phải chấp nhận theo đúng tinh thần thể thao ngay thẳng. Ðó là đường lối thiên nhiên. Ðối với nghiệp báo nó là vậy, cho đến khi chúng ta thành đạt giải thoát -- chừng đó mọi vấn đề khó khăn sẽ chấm dứt.

^^^


2. Giáo Pháp Nhiệm Mầu


Những ai có thực hành Giáo Pháp sẽ bắt đầu hiểu biết Giáo Pháp, hay cảm nhận lợi ích của Giáo Pháp trong lãnh vực hành thiền, rõ ràng và sâu rộng hơn các lãnh vực khác. Thí dụ như phước báo phát sanh do những hành động bố thí thì trổ sanh theo một chiều, phước báo tạo nên do nghiệp trì giới thì trổ sanh theo một chiều khác, những thọ cảm của phước báo phát sanh từ những nghiệp lành khác nhau đều trổ sanh theo chiều hướng riêng của nó. Ðó gọi là tìm phước báo trong thiện pháp.

Nhưng tất cả những thọ cảm phước báo ấy đều tựu trung vào pháp hành thiền. Chúng ta bắt đầu cảm xúc khi tâm dần dần lắng đọng, càng lúc càng yên tĩnh, gom chung các luồng tâm sở hợp lại thành một. Mặc dầu có thể ta chưa đạt đến mức độ yên tĩnh vững chắc, do sự gom tâm, chung ta vẫn cảm nghe hoan hỷ thoải mái bên trong, một trạng thái thỏa thích có thể cảm nhận rõ ràng. Nếu cái tâm hay Giáo Pháp là một món đồ, một vật, thì trên thế gian này ắt không có ai mà không kính nể tôn giáo, bởi vì trạng thái thoải mái, an lành và kỳ diệu phát sanh từ tôn giáo, và từ công trình hành thiền đúng theo những lời chỉ dạy của tôn giáo, là những gì mà cùng khắp thế giới ai cũng mong muốn.

Thoải mái, an lành, kỳ diệu: Ðó là những gì mà từ nghìn xưa lúc nào người thế gian cũng thèm khát -- một sự thèm khát không bao giờ mất hương vị -- và đó là những gì mà lúc nào cũng sẽ còn được thèm khát, cho đến khi thế gian mất hết ý nghĩa của nó, hoặc đến khi con người diệt tắt, không còn biết gì là tốt hay xấu. Ðó là lúc thế gian không còn mong cầu vào những phước lành lớn lao ấy. Trạng thái an lành phát sanh từ những kỳ diệu -- lãnh vực quả phúc của Giáo Pháp -- là điều mà tất cả chúng sanh đều kỳ vọng, nhưng vì khả năng của mỗi người mỗi khác nên có người thành tựu nguyện vọng, người thì không.

Tuy nhiên, không thể phô bày Giáo Pháp cho thế gian cảm nhận xuyên qua nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức hay thân thức như các vật khác. Mặc dầu có thể có những hiện tượng vô hình tướng khác tương tợ như Giáo Pháp -- như hương thơm -- nhưng các hiện tượng ấy không hẳn giống như Giáo Pháp thật sự, vốn có thể được tiếp nhận xuyên qua tâm của những ai thực hành Giáo Pháp. Nếu có thể trưng bày Giáo Pháp như các món đồ thì chắc chắn con người phải kính nể tôn giáo vì giá trị của Giáo Pháp ấy. Ðó là vì Giáo Pháp nhiệm mầu, kỳ diệu hơn tất cả bất luận gì khác. Trong toàn thể Tam Giới (Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới) không có chi kỳ diệu, nhiệm mầu bằng Giáo Pháp.

Giáo Pháp có thể phát hiện như một kỳ quan, hiển nhiên và rõ ràng trong tâm. Tâm là cái gì hay biết nó -- và chỉ có tâm hay biết nó. Không thể trưng bày Giáo Pháp như một món đồ, như khi chúng ta cầm lên để nhìn ngắm hoặc khoe với người khác. Không thể được. Giáo Pháp không thể được phô bày như một đồ vật. Ðó là điều làm cho thế gian không chú tâm đến -- làm cho thế gian không để ý đến những gì có thể ước vọng nơi Giáo Pháp. Theo một lối, quả thật là đáng hổ thẹn.

Chí đến những người có lòng ham muốn sự kỳ diệu của Giáo Pháp cũng không hiểu biết kỳ diệu ấy là gì, hoặc Giáo Pháp thâm sâu huyền diệu như thế nào, bởi vì tâm của họ chưa bao giờ tiếp xúc được với kỳ diệu. Tai của họ chưa bao giờ thành đạt kỳ diệu của luồng trôi chảy của Giáo Pháp, bởi vì Giáo Pháp không phải là cái gì mà ta có thể phát đi như một luồng âm thanh, hay bởi đi như một món đồ. Ðó là một trở ngại làm cho Giáo Pháp không thể cảm xúc con người, làm con người không thể trọn vẹn đặt niềm tin, trọn vẹn tín nhiệm nơi Giáo Pháp một cách vững chắc, không thối chuyển, đúng theo sở nguyện và tấm lòng lâu ngày thèm khát trạng thái an lành và thạnh vượng của thế gian.

Mỗi vị Phật chứng ngộ Toàn Giác và ban truyền Giáo Pháp cho thế gian đều đã vận dụng khả năng và trí tuệ để suy tư cặn kẽ về muôn ngàn phương cách nhằm giáo huấn, làm cho chúng sanh có thể nhận thức rằng Giáo Pháp là một kỳ diệu nhiệm mầu, trong khi các Ngài không thể trưng bày Giáo Pháp trong tủ kiến một gian hàng hay ở nơi công cộng. Ðó là vì chính thật Giáo Pháp thì nằm trong tâm và chỉ tự biểu hiện qua lời nói và việc làm. Hành động và lời nói vốn không khơi động ý niệm về phước lành giống như khi Giáo Pháp trực tiếp cảm xúc tâm.

Vì lẽ không thể trực tiếp trình bầy, chư Phật gián tiếp ban truyền Giáo Pháp xuyên qua những lời khuyên dạy. Các Ngài vạch rõ những nguyên nhân -- "Giáo Pháp nhân", bao gồm giới đức và pháp hành, dẫn đến "Giáo Pháp quả", tức những giai đoạn tiến bộ khác nhau, tầng này hay tầng nọ, và cùng lúc các Ngài tuyên bố thành quả -- trạng thái cao siêu, tính cách kỳ diệu của những giai đoạn và những chứng ngộ mà tâm có thể tiếp xúc, từ thấp dần dần lên đến mức độ nhiệm mầu kỳ diệu tuyệt đỉnh, vimutti, giải thoát, trạng thái hoàn toàn tự do gọi là Niết Bàn, bên trong tâm.

Mỗi vị Phật phải tìm một phương cách riêng để truyền bá Giáo Pháp nhằm đem kỳ diệu đến thế gian bằng những lối giảng dạy và trình bày khác nhau để mô tả Giáo Pháp là như thế này hay thế nọ, nhưng chính Giáo Pháp thật sự thì không thể chỉ vạch rõ ràng, cụ thể, như ta cầm một món đồ trong tay và đưa lên cho mọi người đều có thể nhìn thấy. Giáo Pháp chỉ có thể trực nhận trong tâm, theo đường lối mà mỗi vị Phật và mỗi vị A La Hán thành tựu kỳ diệu nhiệm mầu ấy, không có cách nào khác. Về phương diện này không có vị Phật nào, không có vị A La Hán nào, đã thành tựu kỳ diệu mà còn khuyết điểm.

Kỳ diệu nằm trong tâm. Nhưng các Ngài không thể cầm lên những kỳ diệu phát sanh trong tâm mình đem ra phô bày với đầy đủ tánh cách thâm sâu huyền diệu của nó. Do đó các Ngài phải tìm phương kế để trình bày, diễn đạt Giáo Pháp qua hành động. Nhưng đó chỉ là đặc tánh của Giáo Pháp, là biểu hiện tượng trưng chớ không phải chính thực là Giáo Pháp. Thí dụ như giáo lý mà các Ngài dạy trong kinh điển chỉ là đặc tánh biểu tượng của Giáo Pháp. Hành động giảng dạy cũng chỉ là đặc tánh của Giáo Pháp. Giáo Pháp thật sự là khi một hành giả hoặc một người nào lắng nghe lời dạy của các Ngài rồi thực hành đúng theo lời dạy, mỗi ngày một ít, tiếp xúc dần dần với Giáo Pháp từ bên trong nội tâm. Ðiều đó được gọi là bắt đầu giao cảm với "chân Giáo Pháp", từng giai đoạn một. Dầu có tiếp xúc được nhiều hay ít hành giả vẫn cảm nhận phước lành từ bên trong mình, chỉ bên trong mình.

Về tánh cách tinh xảo điêu luyện trong đường lối truyền bá giáo lý, không ai có thể sánh bằng chư Phật. Mặc dầu vậy các Ngài chỉ truyền dạy những gì mà các Ngài nhận thấy là thích nghi hữu dụng cho nhân loại. Các Ngài không thể phô bầy chân Giáo Pháp, chỉ rõ Giáo Pháp thật sự -- thí dụ như cầm lấy trong tay những kỳ diệu thật sự trong tâm mình trưng bày cho thế gian xem và nói, "Ðây là kỳ diệu của Như Lai, của Chư Phật. Quý vị thấy không?" Làm như thế ấy không thể được, bởi vì ở đây chúng ta đang đề cập đến những kỳ diệu của tâm trong sạch mà trước kia vốn thấm nhuần ô nhiễm như một đống phẩn to tướng chứa chấp đủ loại nhơ bẩn, nhưng nay thì bản chất của cái tâm ấy là tuyệt đối vô nhiễm, hoàn toàn trong sạch, tuyệt hảo lạ thường, nhờ được thận trọng gội rửa qua các pháp hành chuyên cần bất thối chuyển. Các Ngài không thể trình bày Giáo Pháp cho thế gian và nói, "Quý vị thấy đâu không? Hãy nhìn xem. Nhìn xem. Hãy tận mắt mục kích cho mãn nhãn, rồi nỗ lực gia công, làm cho nó trở thành kho tàng của báu của chính quý vị!" Vì không thể làm như vậy được các Ngài dùng những đường lối khác nhau để chỉ dạy những ai thực hành, mô tả trọn vẹn con đường với đầy đủ chi tiết, trên cả hai chiều nhân và quả. Những gì mà các ngài lấy ra để trình chỉ là luồng âm thanh trôi chảy hợp thành tiếng nói, chỉ là hơi thở ở cửa miệng. Các Ngài không thể đem ra cái thật sự hiện hữu. Thí dụ như khi nói, "Nó kỳ diệu như thế này," đó chỉ là tiếng động. Chính bản chất kỳ diệu thì không thể đem ra trình bày. Tất cả những gì có thể đem ra chỉ là tác động thốt ra lời, "Bản chất ấy quả thật là kỳ diệu!" rồi để tự chúng ta suy diễn và thấy nó là kỳ diệu như thế nào. Mặc dầu vậy điều này không thể đánh ta hoài nghi của chúng ta. Vẫn còn tốt hơn là chúng ta không bao giờ được nghe gì cả!

Tuy nhiên, nguyên tắc căn bản làm cho ta hiểu biết và cảm nhận kỳ diệu của Giáo Pháp là trước tiên ta phải suy tư cặn kẽ rồi noi theo con đường thực hành. Làm như thế ấy được xem là theo đúng những nguyên tắc của Giáo Pháp mà Ðức Phật đã ban truyền, chân chánh và thích nghi. Trên con đường, dầu có gặp phải khó khăn và gian lao khổ nhọc như thế nào ta không nên để cho nó trở ngại bước tiến vì đó là con đường phải trải qua, nó là vậy. Không có lối đi tắt nào có thể đưa ta đến mục tiêu dễ dàng. Nếu ta cảm nghe thực hành là khó hãy bám sát vào. Nếu có khổ đau, hãy kiên trì chịu đựng, bởi vì đó là nhiệm vụ mà ta phải hoàn thành, là gánh nặng mà ta phải mang, trong khi gia công nỗ lực thành tựu mục tiêu cứu cánh.

Giáo Pháp của tâm trong sạch là như thế: Tâm là Giáo Pháp, Giáo Pháp là Tâm. Chúng ta chỉ gọi nó là tâm giờ phút nào nó còn dính liền với thân và các uẩn. Chỉ đến chừng ấy ta mới có thể gọi nó là tâm trong sạch, tâm của một vị Phật hay tâm của một vị A La Hán. Sau khi trải qua giai đoạn tách rời ra khỏi thể xác và các uẩn thì tâm ấy không còn là thực tại quy ước, không thể đem so sánh với bất luận gì trong thế gian quy ước này. Vì lẽ ấy ta không thể gọi nó là gì hết.

Dầu bản chất thiên nhiên ấy kỳ diệu ra sao, dầu nó có thể thuộc về của ta đến mức độ nào, không cách gì ta có thể dùng thực tại quy ước để mô tả hay so sánh, bởi vì Giáo Pháp ấy, trạng thái giải thoát ấy, thì không có gì trong thế gian quy ước có thể đo lường hay so sánh. Cũng giống như vượt ra ngoài không gian. Phía nào là Bắc, bên nào là Nam, ta nào biết. Ðứng trên quả địa cầu ta có thể nói, "Ðông", "Tây", "Nam", "Bắc" bởi vì có những cái để ta dùng làm điểm tựa rồi so sánh và nói hướng nào nằm về phía nào. Ta lấy quả địa cầu làm tiêu chuẩn. "Cao" hay "thấp", ta căn cứ trên mặt đất. Cái này cao hơn bao nhiêu, cái kia thấp hơn bao nhiêu, đây là hướng Bắc của nó phía Nam của nó nằm về hướng kia. Ta có thể nói những điều ấy.

Nhưng khi đã vượt qua ngoài không gian thì không có chi làm tiêu chuẩn để đo lường và do đó chúng ta không thể nói. Hoặc nữa, khi ngồi trên phi cơ đang bay ta không thể nói máy bay chậm hay mau như thế nào. Khi bay ngang qua một đám mây ta liền biết rằng máy bay bay mau, nhưng nếu chỉ dựa trên những gì mắt thấy chắc ta nghĩ rằng tốc độ của phi cơ cũng tương tợ như tốc độ một chiếc xe hơi. Chúng ta có thể nhận thức ngay rằng cái nhìn dễ sai lạc dường nào. Khi ngồi trên một chiếc xe đang chạy mau ta thấy hình như cây cối hai bên đàng ngã rạp phía sau xe. Trong thực tế cây vẫn còn nguyên vẹn mà chỉ vì xe chạy mau ngang qua. Vì lẽ có cảnh vật thấy đâu gần đó để so sánh nên ta có cảm tưởng là xe chạy thật mau.

Còn khi ngồi trên phi cơ thì không có gì để so sánh nên hình như nó bay vởn vơ, tưởng chừng như còn chậm hơn xe chạy, mặc dầu tốc độ của phi cơ nhanh hơn của xe nhiều.

So sánh tâm người thế tục tầm thường với tâm của một vị Phật cũng dường thế ấy. Bất luận gì mà Ðức Phật nói là tốt, là tuyệt hảo, người thường trong đám đông quần chúng có khuynh hướng cho là không đúng vậy. Bất luận gì mà ta ưa thích, dầu nó đê hèn bần tiện đến đâu, ta nói là tốt. Chúng ta không chấp nhận chân lý, cũng như ta nghĩ rằng xe hơi chạy mau hơn máy bay.

Pháp hành nhằm trau giồi tâm quả thật vô cùng quan trọng. Hãy nỗ lực phát triển tốt đẹp chú niệm (sati) và trí tuệ, rèn luyện cho nó bám sát theo dõi sự vật, vốn phát sanh đến và làm cho tâm rối loạn. Thông thường, chính tâm là kẻ khuấy động, luôn luôn gây rối, không ngừng nghỉ. Và rồi chúng ta nghiêng ngã theo hậu quả của tâm vọng động -- điều này làm cho ta xôn xao, chao động, phiền giận và âu sầu. Tất cả đều do những ý nghĩ được biến chế và tạo nên trong tâm. Tất cả đều phát sanh từ trong tâm, và chính tâm nghiêng ngã theo nó, cho rằng đây là cái này và kia là cái kia, mặc dầu những sự vật mà nó gọi là "cái này" hay "cái kia" chỉ tồn tại đúng theo bản chất thiên nhiên của nó. Tự chính nó không có ý nghĩa là giống cái này hay giống cái kia. Chỉ có tâm cho nó ý nghĩa rồi nghiêng ngã theo ý nghĩa ấy, tự làm cho mình vui hay buồn vô cùng tận, vì nó. Cùng thế ấy hậu quả căng thẳng và đau khổ của những suy tư tưởng tượng không bao giờ chấm dứt, không có điểm hoàn tất, cũng giống như trôi giạt giữa dòng trên đại dương mênh mông bát ngát để rồi thở hơi thở cuối cùng.

Tất cả chư Phật đều chứng ngộ Ðạo Quả tại đây, trong cảnh giới người, bởi vì trong cảnh người có rất nhiều chân lý gọi là Diệu Ðế. Nơi đây Tứ Diệu Ðế được phơi bày hiển nhiên, rõ rệt. Diệu Ðế về đau khổ (dukkha), Khổ Ðế: Nó nằm ngay trong cơ thể con người. Loài người hiểu biết rõ về đau khổ hơn các loài thú vì khôn ngoan hơn. Diệu Ðế về nguồn gốc của đau khổ (Tập Ðế): nằm trong tâm con người. Diệu Ðế về con đường (Ðạo Ðế) -- con đường thực hành nhằm chữa trị ô nhiễm (kilesa), ái dục (tanha) và hoặc lậu (asava), vốn là những gì gây đau khổ: Ðiều này, con người cũng hiểu biết. Con đường ấy là gì? Một cách vắn tắt, đó là giới-định-tuệ. Những pháp này con người cũng hiểu biết và có thể đem ra thực hành. Diệu Ðế về trạng thái chấm dứt đau khổ (Diệt Ðế): Ðiều này con người cũng hiểu biết. Bất luận chân lý nào trong bốn Diệu Ðế ấy loài người đều biết - mặc dầu có thể họ không biết phải có thái độ như thế nào đối với các chân lý ấy, hay phải làm thế nào lưu tâm đến thái độ thích nghi, theo chiều hướng của bốn chân lý ấy, trong trường hợp như vậy thì không có cách nào Giáo Pháp có thể giúp họ được gì.

Do đó chư Phật ban truyền Giáo Pháp trong thế gian loài người bởi vì cảnh người nằm vào khoảng giữa những cảnh giới sinh tồn. Chúng ta được sanh ngay vào trung tâm của sự sinh tồn, ngay giữa tôn giáo. Chúng ta phải sống thích nghi, phù hợp với trung tâm điểm của tôn giáo để thông hiểu những lời dạy của tôn giáo. vốn nằm trong giữa tâm của chúng ta.

Giáo Pháp tối thượng nằm ngay tại đây. Không phải ở đâu khác. Tâm là cái gì có thể đạt đến Giáo Pháp. Tâm là cái gì thông hiểu tất cả Giáo Pháp. Như vậy những vấn đề thuộc về Giáo Pháp không nằm nơi đâu vượt khỏi tâm. Tâm là nơi thích nghi. Thiện, bất thiện, hạnh phúc, đau khổ: Tâm biết rõ những điều ấy trước hơn tất cả ai hay những gì khác có thể biết. Như vậy ta phải phát triển chú niệm và trí tuệ để làm nguồn hiểu biết nhằm theo dõi những diễn biến luôn luôn vướng mắc dính liền với tâm, suốt ngày và mỗi ngày.

Nếu chúng ta miệt mài, quyết tìm hiểu nguồn gốc của đau khổ, vốn được trải rộng, vãi tung ra từ những suy sư tưởng tượng, ta sẽ thấy rằng nó không ngừng phát sanh. Nó trổi dậy và khởi phát ngay tại đây, trong tâm. Dầu ta muốn làm cho nó vắng lặng, nó vẫn không yên tĩnh. Tại sao? Là vì trạng thái "vọng động", "không yên tĩnh", những ý tưởng do cái tâm tự khuấy động lấy mình, luôn luôn cấu thành và vọng móng đến các đối tượng của tâm (aramana). Mỗi khi tâm gởi những ý tưởng ra ngoài là nó thâu về phiền muộn đau khổ. Cái gì nó gởi ra là nguồn gốc của đau khổ, và điều gì nó nhận về là đau khổ. Nói cách khác, những tư tưởng được cấu thành và gởi ra ngoài là nhân đau khổ, hậu quả của những tư tưởng ấy mà trở lại tâm là đau khổ. Sự việc luôn luôn được chế tạo và xảy ra như vậy.

Khi muốn tâm được vắng lặng, chỉ đôi chút thôi, ta cũng phải thật sự cưỡng ép nó. Cho dù đến chừng ấy cũng vậy, những sự việc ấy vẫn tìm cách lôi cuốn tâm, tạo nên những suy tư tưởng tượng mỗi khi ta hơ hỏng, không nghiêm nhặt canh phòng. Ðó là đường lối của nhân sanh khổ, luôn luôn tạo đau khổ. Nó nằm trong tâm và luôn luôn sẵn sàng khởi dậy. Vì lẽ ấy ta phải tận dụng chú niệm và trí tuệ để chẩn mạch và chữa trị nguyên nhân sanh khổ. Ta phải cẩn trọng để mắt trông chừng và chụp nó ngay tại chỗ, không nên lơ đểnh hờ hững dể duôi. Bất luận nơi nào mà ta ngồi hoặc đứng -- trong bất cứ sinh hoạt nào của ta -- luôn luôn phải canh phòng nghiêm nhặt với chú niệm, luôn luôn giác tỉnh, phải giữ trí tuệ luôn luôn sắc bén để lúc nào cũng hiểu biết chân lý một cách đúng đắn và rõ ràng.

Tất cả những ai tu tập để loại trừ ô nhiễm đều thực hành theo phương cách này. Ðặc biệt là các bậc xuất gia, vào rừng tìm nơi thuận tiện để nỗ lực quét sạch kẻ thù này. Cho dù ở những nơi vắng vẻ, bất luận đi đâu hay ở nơi nào, các Ngài liên tục kiên trì nỗ lực quyết tâm loại trừ và tiêu diệt, từng bước một, nguồn gốc của đau khổ, vốn là vết thương lòng, là gai nhọn trong tâm. Các vị tu hành như vậy phải phát triển tình trạng thoải mái an lành ngày càng nhiều hơn, từng bước một, tùy theo mức độ kiên trì của mình.

Chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng khi tâm lắng dịu và tĩnh lặng. Dòng suy tư im lìm, yên tĩnh, hầu như không còn nữa. Một trạng thái vắng lặng, không bị khuấy động, không bị quấy rầy. Ðau khổ mà thường là hậu quả của chao động và quấy rầy không phát sanh. Khi tâm tĩnh lặng, đau khổ cũng tĩnh lặng. Khi giòng suy tư im lìm yên tĩnh, nguyên nhân của đau khổ cũng yên tĩnh im lìm. Ðau khổ cũng im lìm. Lúc bấy giờ tất cả gì còn lại chỉ là cảm thọ an lạc, thanh bình và thoải mái dễ chịu.

Trận chiến giữa tâm và ô nhiễm, nguồn gốc của đau khổ, xảy diễn ra như thế đó. Ta phải liên tục kiên trì chiến đấu. Phải tận dụng chú niệm và trí tuệ, đức tin và nhẫn nhục để chịu đựng, ứng phó với cuộc chiến cam go luôn luôn khuấy rầy và tàn phá tâm, luôn luôn gây sóng gió và quây cuồn xáo trộn bên trong. Tình trạng chao động sẽ dần dần lắng dịu. Dầu chỉ trong khoảnh khắc vắng lặng cũng cho ta thấy sự tai hại của dòng suy tư không ngừng làm cho tâm vọng động. Cùng lúc ta sẽ thấy rõ sự lợi ích lớn lao của tâm tĩnh lặng -- hoan hỉ thật sự. Dầu tĩnh lặng nhiều hay ít, trạng thái thỏa thích sẽ phát sanh tùy thuộc mức độ tĩnh lặng căn bản, hay năng lực của sự tĩnh lặng, mà kinh điển gọi là tâm "định", samadhi.

Một cái tâm được gom tụ và tĩnh lặng được gọi là tâm an trụ. Tâm an trụ là như vậy. Danh hiệu hay những tên khác nhau dùng để gọi những tầng lớp an trụ tâm thì ở khắp cùng, nhưng tình trạng an trụ thật sự thì ở trong tâm. Tâm là cái gì làm cho trạng thái an trụ phát sanh. Tâm tự tạo trạng thái an trụ cho mình. Khi an trụ vững vàng tĩnh lặng tâm cảm thọ trạng thái mát mẻ, an tĩnh và thỏa thích. Nền tảng an trụ được kiên cố vững vàng thiết lập trong tâm.

Cũng như ta ở trong một thạch động hay ngồi dưới tàng bóng mát mẻ của một cội cổ thụ. Chúng ta cảm nghe thoải mái dễ chịu khi trời mưa, chúng ta cảm nghe thoải mái khi mặt trời ló dạng ra khỏi đám mây, bởi vì chúng ta không bị dãi dầu mưa nắng. Tâm vững chắc trên nền tảng yên tĩnh cũng dường thế ấy: Nó không bị điều này hay chuyện nọ vấn vương và luôn luôn gây xáo trộn. Ðó là vì tĩnh lặng là nơi ẩn náu của tâm -- "an trụ" là một tầng lớp, một cấp bậc, một loại tổ ấm cho tâm.

Trí tuệ (panna) là tính tinh xảo điêu luyện, xét đoán chân chánh, đánh giá đúng đắn nhân và quả bên trong và bên ngoài, trên, dưới và khoảng cách ở giữa -- trong thân -- suốt đến những luồng tâm, rải tung ra dưới nhiều khía cạnh. Chú niệm và trí tuệ theo dõi những hiện tượng ấy để quán chiếu và lượng giá, trên phương tiện suy tư tưởng tượng (hành uẩn), hoặc trên phương diện bản chất hữu vi (sankhara) bên trong ta cho đến khi nhận thức rõ ràng chân lý của mỗi hiện tượng.

Chớ nên quán chiếu sự vật lệch ra ngoài mục tiêu, bằng cách điêu luyện trong việc dán nhãn hiệu và diễn dịch ngược chiều với chân lý -- bởi vì trong khi quán chiếu các hiện tượng tra phải theo đúng chiều hướng của chân lý. Chúng ta không cưỡng lại chân lý, bởi vì làm như vậy ta chỉ hỗ trợ cho ô nhiễm tạo đau khổ, ngay trong khoảnh khắc mà chúng ta nghĩ rằng ta quán chiếu các hiện tượng để loại trừ ô nhiễm.

Sanh, chúng ta đã chứng nghiệm. Lão, chúng ta không ngừng đi dần đến tuổi già từ khi mới chào đời, càng lúc càng già, từng bước một. Bất cứ ở lứa tuổi nào, đó là điểm ghi dấu cho biết ta đã trưởng thành tới được đến đâu, mãi cho đến mức cuối cùng của cuộc sống. Rồi đến một lúc nào, ta sẽ hoại diệt, tan rã. Nói một cách khác, từ lúc mới sanh cho đến ngày nay chúng ta luôn luôn trở thành già hơn -- già hơn từng ngày, từng tháng, từng năm -- liên tục già hơn, già hơn. Ta gọi đó là "trưởng thành", nhưng thật sự đó là già thêm, "đi đến tuổi già".

Quý vị thấy chưa? Quán chiếu những gì thật sự đúng là vậy. Ðó là con đường xa lộ rộng lớn -- con đường của thiên nhiên. Không nên cưỡng lại chân lý -- là đau khổ. Dầu ta cố gắng cưỡng lại như thế nào, cũng không đến đâu. Có thể hy vọng được gì trong khi cưỡng lại chân lý và tự tạo đau khổ cho mình? Trong thực tế ta không được gì hết, ngoại trừ đau khổ phát sanh từ chính sự cưỡng lại chân lý.

Hãy dùng trí tuệ để quán chiếu như thế ấy. Bất cứ lúc nào có sự đau nhức ở một phần nào trong thân, nếu có thuốc để chữa trị, ta hãy dùng thuốc chữa trị. Nếu thuốc công hiệu, trị được bệnh, thân này sẽ chết. Tự nó là vậy. Ta không cần cố gắng cưỡng ép nó không được chết, hay bắt nó phải sống đến bao nhiêu tuổi. Ðó là điều không thể làm được. Dầu ta cố gắng cưỡng bách thế nào, nó vẫn là vậy. Ta sẽ không thâu gặt được kết quả mong muốn, chỉ hoài công, kiệt lực vô ích. Cơ thể phải biến đổi theo những nguyên tắc thiên nhiên của nó. Khi quán chiếu đúng theo chiều hướng của chân lý, như vậy ta có thể cảm nghe thoải mái dễ chịu. Nơi nào đau đớn, chúng ta liên tục hay biết theo chiều hướng của chân lý. Dầu đau nhiều hay ít, ta liên tục hay biết và theo dõi chí đến điểm đau đớn cùng tột -- cái chết của thân -- và đó là mức xa nhất mà nó có thể đến.

Hãy hiểu biết theo chiều hướng của chân lý. Chớ nên cưỡng lại. Không nên tạo ý muốn, bởi vì tự tạo thêm ước vọng cho mình là sai lầm, là khuyết điểm, là thèm khát. Và thèm khát, lúc nào cũng thèm khát hay thèm khát gì cũng đau khổ: Thèm ngủ là đau khổ, thèm ăn là đau khổ, thèm uống là đau khổ. Có bao giờ thèm khát là cái gì tốt?

Thèm khát và ước muốn phát sanh, muốn sự vật phải như thế này hay thế khác: Tất cả chỉ là vọng động, khuấy nhiễu, đưa đến khổ đau và phiền muộn. Vì lẽ ấy Ðức Phật dạy ta không nên cưỡng lại chân lý. Phải xử dụng trí tuệ để quán chiếu, để suy gẫm theo chiều hướng những nguyên tắc thiên nhiên của sự vật, đúng như nó đã là vậy. Ðó là trí tuệ không đi ngược dòng chân lý.

Chúng ta học Tứ Diệu Ðế ngay tại đây, trong chính cái thân này. Nói cách khác, chúng ta học về sanh, già, bệnh và chết, tất cả những hiện tượng ấy đều nằm trong đống Tứ Ðại này và không bao giờ tách rời đi đâu cả. Sanh là một vấn đề của Tứ Ðại. Trưởng thành hay trở nên già nua, ngay tại đây. Khi bệnh hoạn, cũng bệnh tại đây, trong phần nay hay phần kia của thân. Khi chết, cũng chết tại đây. Như vậy ta phải học nơi đây -- còn đi chỗ nào khác? Chúng ta phải khảo sát nghiên cứu và thông hiểu những sự vật trực tiếp dính liền với ta trước khi học gì khác. Chúng ta phải học một cách hiểu biết sáng suốt và đầy đủ -- ta học những trạng thái sanh, già, bệnh và đau khổ của ta và cuối cùng hoàn thành công trình nghiên cứu học hỏi với cái chết. Chừng đó ta sẽ sáng suốt -- sáng suốt tinh thông tất cả những diễn biến xảy diễn quanh ta.

Những ai hiểu biết Giáo Pháp qua pháp hành ắt đủ sáng suốt để nhận thức các diễn biến xảy đến mình và không thối chuyển trước bất luận thực tại quy ước nào của thế gian. Sự việc xảy đến ta như vậy khi ta có học Giáo Pháp, khi ta thông hiểu và nhận thức Giáo Pháp về vấn đề tâm linh -- khi ta thông suốt đầy đủ và đúng đắn. Chú niệm và trí tuệ, rọi sáng cùng khắp quanh ta, là minh mẫn thông suốt tất cả những gì xảy diễn quanh ta, không phải chỉ đơn giản là khả năng hồi nhớ những gì đã học. Chú niệm và trí tuệ phải sáng suốt để chữa trị bịnh hoài nghi, chữa trị bệnh ngoan cố của tâm, cũng như chữa trị những luyến ái, bám víu và những nhận định sai lầm của chính nó, chỉ giữ lại bản chất thiên nhiên thuần túy và trong sạch. Ðó là lúc mà chúng ta thật sự thoải mái dễ chịu, thật sự thanh thoát nhẹ nhàng.

Hãy để cho ngũ uẩn là ngũ uẩn, trong sạch và đơn giản theo đường lối của nó, không xen vào pha lẫn với nó, không tranh đấu dành quyền lực với nó, không cố ép hay cưỡng bách nó phải như thế này hay khác. Chừng đó ngũ uẩn là ngũ uẩn, tâm là tâm, mỗi cái theo thực tại riêng tư của nó và không như trước kia, không còn pha trộn lẫn nhau. Mỗi cái làm nhiệm vụ riêng của nó. Ðó gọi là ngũ uẩn thuần túy và đơn giản, không bị thực tại quy ước làm hoen ố. Cái gì hiểu biết là cái gì hiểu biết, tứ đại, ngũ uẩn là ngũ uẩn.

Những sự vật nào có tánh chất phải tan rã, hãy để nó tan rã. Với trí tuệ chúng ta đã hiểu biết rõ ràng, không còn hoài nghi nữa. Ta đã hiểu biết chúng nó trước rồi, còn trước khi chúng nó chết nữa, do đó, khi nó chết ta còn gì hoài nghi? -- nhất là hiện giờ nó đã phơi bày bản chất thật sự cho ta thấy rõ ràng.

Ðiều đó gọi là học Giáo Pháp, thực hành Giáo Pháp. Học và hành theo lối đó là noi theo con đường mà các bậc trí tuệ tiền bối đã trải qua. Các Ngài cũng học và hành như vậy.

Tất cả các tình trạng này là những vấn đề của thực tại quy ước -- vấn đề tứ đại, vấn đề ngũ uẩn hay vấn đề lục căn. Dầu sao tứ đại, ngũ uẩn là tình trạng cá nhân, những tình trạng cá nhân tách rời riêng rẻ đúng theo chiều hướng của quy ước. Trí tuệ cũng là một tình trạng, và chú niệm là một tình trạng khác -- tình trạng của tâm -- nhưng đây là Giáo Pháp, là phương tiện để chữa trị tâm. Tâm bị che lấp mù mờ đen tối. Giáo Pháp là phương tiện để gội rữa, tẩy sạch những gì che lấp, làm cho tâm đen tối mù mờ, cho đến khi ánh sáng tỏ rạng phát hiện xuyên qua năng lực của trí tuệ, hằng gội rữa tâm. Một khi tỏ rạng tâm sẽ trở nên thuần túy trong sạch trong giai đoạn tiếp theo liền kế đó.

Tại sao tâm trở nên trong sạch? Bởi vì tất cả những gì bất tịnh nhiễm ô đã được thanh lọc loại trừ. Những gì sai quấy mà trước kia ô nhiễm tạo nên trong tâm tất cả đều bị quét sạch, do đó tâm hoàn toàn thanh tịnh. Tâm thanh tịnh này có nghĩa là chúng ta đã hoàn mãn công trình học hỏi chính ta, đúng theo lời dạy: "vusitam brahmacariyam katam karaniyam." "Nhiệm vụ của tôn giáo đã hoàn tất, đời sống thánh thiện đã viên mãn, không còn phận sự nào phải làm nữa."

Khi những nhiệm vụ mà chúng ta phải làm tròn -- buông bỏ và kiên trì nỗ lực -- đã được thực hiện đầy đủ thì chúng ta hiểu biết liền, ngay tại đây, bởi vì si mê nằm ngay tại đây, trong tâm. Chúng ta học và hành chỉ giản dị là để chữa trị chính cái si mê của ta. Một khi đã hiểu biết ngay tại đây, và si mê đã tan biến thì còn gì khác để hiểu biết? -- vì ngoài si mê trong tâm thì không còn gì khác để hiểu biết. Còn gì khác làm chúng ta mê hoặc? Ta không còn si mê bởi vì đã hoàn toàn thông suốt, trọn vẹn và đầy đủ.

Chính trạng thái tâm này: Ở đoạn đầu, khi đề cập đến Giáo Pháp tối thượng, Giáo Pháp nhiệm mầu kỳ diệu, là chúng ta muốn ám chỉ chính trạng thái tâm này, chính Giáo Pháp này -- nhưng đây là cái gì hiện hữu bên trong, không ở bất cứ đâu khác. Quả thật nhiệm mầu -- điều này ta chỉ hiểu biết trong tâm. Quả thật là tối thượng -- điều này ta cũng chỉ hiểu biết trong tâm. Ta không thể tháo mở, đưa nó ra và trưng bày cho người khác thấy như một món đồ.

Như vậy, nếu quý vị muốn có Bảo Tạng cho chính mình, hãy thực hành. Hãy loại trừ tất cả những gì nhơ bẩn trong tâm rồi sẽ thấy pháp tối thượng mà ta đề cập ở phần trên tự nó sẽ phát hiện -- nó sẽ tự nhiên phát hiện trong tâm. Ðiều đó được gọi là viên mãn hoàn tất việc học hỏi Giáo Pháp; và công trình học hỏi thế gian của chúng ta hoàn tất ngay tại đây. Danh từ "thế gian" ở đây là thế gian tứ đại, thế gian ngũ uẩn, nằm ngay tại đây với mỗi người chúng ta, vốn quan trọng hơn là thế gian tứ đại, ngũ uẩn của người khác, bởi vì thế gian tứ đại ngũ uẩn này nằm trong tại đây và trong suốt thời gian dài dẳng qua, mãi đè nặng trong tâm.

Cho đến khi thành đạt giải thoát thì tất cả Giáo Pháp chỉ có bấy nhiêu để học. Chúng ta viên mãn hoàn thành công trình học hỏi thế gian và trọn vẹn hoàn mãn việc học Giáo Pháp. Hoài nghi đã chấm dứt, không bao giờ có gì làm cho ta ngờ vực nữa. Như lời Ðức Phật dạy: "Khi các pháp phát hiện sáng tỏ đến vị Bà La Môn đã chuyên cần tu học và lãnh hội đầy đủ, hoài nghi sẽ chấm dứt bởi vì những điều kiện, những yếu tố trói buộc chúng sanh vào vòng sanh tử triền miên đã chấm dứt."

Khi đạt đến mức độ tiến bộ này ta có thể sống ở đâu cũng được. Cuộc chiến đã chấm dứt -- cuộc chiến giữa tâm và ô nhiễm, hay giữa Giáo Pháp và ô nhiễm đã kết thúc.

Ðây là nơi mà ta tháo gỡ vòng quanh sanh tử. Ðây là nơi mà ta tháo gỡ đống khổ đau chồng chất trong vòng quanh các kiếp sống -- ngay tại đây, trong tâm. Vì lẽ tâm là người đi lang thang bất định trong vòng luân hồi sanh tử triền miên ta phải tháo gỡ sự vật ngay tại đây, phải hiểu biết ngay tại đây. Một khi đã hiểu biết mọi vấn đề cũng chấm dứt nơi đây.

Khắc cùng toàn cõi thế gian rộng lớn mênh mông không còn vấn đề nữa. Trước kia, vấn đề duy nhất là do tâm, vì si mê, mù mờ đen tối, không tự hiểu biết mình và không hiểu biết sự vật liên quan đến mình. Giờ đây tâm đã sửa đổi hoàn toàn mối tương quan của nó đối với sự vật thì không còn gì nữa -- ngay tại đây chấm dứt mọi vấn đề.

Từ thời điểm này không còn vấn đề làm cho tâm vọng động, chí đến ngày trọn vẹn nhập Niết Bàn. Hoàn tất viên mãn công trình tu học Giáo Pháp là như vậy. Việc học thế gian -- thế gian tứ đại và ngũ uẩn -- cũng được thành tựu mỹ mãn ngay tại đây.

Vậy quý vị hãy kiên trì nỗ lực để thấy cho được nhiệm mầu kỳ diệu mà đã được mô tả ở đoạn đầu, đúng theo chiều hướng chân lý, không còn gì để hoài nghi.

Ðức Phật và chư Thánh Tăng, Ðệ Tử Ngài, có đầy đủ Giáo Pháp trong tâm. Quý vị là đệ tử của Như Lai, xuyên qua pháp hành, tâm của quý vị trở nên thanh tịnh, quý vị cũng có thể nhận thấy nhiệm mầu kỳ diệu trong tâm mình giống như Ðức Phật và chư Thánh Tăng. Hãy lắng động, làm cho tâm tĩnh lặng và sáng tỏ, vì đã từ lâu nó bị chôn vùi trong bùn nhơ. Giờ phút nào bắt đầu thấy được những tệ hại của bùn nhơ. Giờ phút nào bắt đầu nhận thấy được những tệ hại của bùn nhơ và phát tâm chán nản quý vị phải gấp rút tỉnh dậy, ghi nhận và gia công trì chí chuyên cần cho đến khi có thể thong thả ruổi giong trên con đường. Niết Bàn đang mở rộng vòng tay để đón mừng, đang chờ đợi quý vị. Quý vị đã dứt khoát lên đường chưa?

Tình trạng khuấy động chỉ là vọng tưởng. Chấm dứt khuấy động là tĩnh lặng. Khi tâm tĩnh lặng ắt có thoải mái dễ chịu. Không tĩnh lặng thì nóng như lửa đốt. Dầu quý vị ở đâu, tất cả đều nóng bức và rối loạn. Khi đã tĩnh lặng thì đâu đó mát mẻ và an lạc thanh bình, dầu quý vị ở đâu -- mát mẻ an lạc ngay tại đây, trong tâm. Vậy, hãy dùng pháp hành làm cho tâm mát mẻ bởi vì lửa nóng và tình trạng khuấy động đều nằm trong tâm. Sức nóng của lửa là một việc, nhưng sức nóng của tâm vọng động càng nóng nhiều hơn lửa đốt. Hãy cố gắng dập tắt những những ngọn lửa của ô nhiễm, tham ái và các hoặc lậu đang bừng cháy nơi đây, trong tâm. Chỉ giữ lại những hiện tượng của Giáo Pháp thật sự. Chừng ấy quý vị sẽ mát mẻ và an lạc, bất luận ở đâu, bất cứ lúc nào.

Sư xin chấm dứt thời Pháp tại đây.

^^^


3. Thế Gian Ngục Tù và Thế Gian Bên Ngoài


So với thế gian, tâm của chúng ta là nhân muôn thủa, giống như người sanh ra từ trong tù, sống trong tù, luôn luôn ở phía sau song sắt, không bao giờ có hy vọng được thoát ra và thấy thế gian bên ngoài, như người sanh trưởng và suốt đời mãi mãi sống trong ngục thất và do vậy không bao giờ biết thế gian bên ngoài có gì và như thế nào, giống như người chỉ thấy hạnh phúc và đau khổ trong cảnh lao tù không bao giờ được bước ra ngoài để nhìn xem ở thế gian bên ngoài tình trạng thoải mái, tự do và hạnh phúc ra sao. Chúng ta không cách nào thấu hiểu loại hạnh phúc và trạng thái nhàn lạc mà người ta có thể họ hưởng bên ngoài thế gian, ta không thể biết được họ đến và ra đi như thế nào, họ sống như thế nào, bởi vì từ ngày ra đời cho đến lúc lìa trần chúng ta luôn luôn bị giam cầm trong ngục thất. Ðây là một sự so sánh, nêu lên một hoàn cảnh thông thường để diễn tả một hoàn cảnh tương tợ có tánh cách trừu tượng.

Chúng ta chỉ có loại hạnh phúc và đau khổ mà nhà tù cung cấp, không có gì đặc biệt, không có gì từ bên ngoài lọt được vào để chúng ta có thể thấy và nói, "Ðây là những gì khác biệt với cái mà mình có trong tù -- cái này là của thế gian bên ngoài, ngoài nhà tù", không có gì để chúng ta có thể so sánh và hiểu rằng, "Cái này là như thế nầy, cái kia là như thế kia, cái này hơn cái kia, cái kia hơn cái này" -- không có gì giống như vậy bởi vì không có gì từ bên ngoài có liên hệ nào với bên trong. Ở đây chẳng có chi khác hơn là chuyện nhà tù. Dầu có nhiều hạnh phúc và đau khổ như thế nào, dầu có bị thiếu thốn, khó khăn, bị áp bức, cưỡng bách đến đâu, đó chỉ là giản dị là con đường mà chúng ta đã trải suốt qua từ lúc -- sơ khởi và chúng ta không biết phải nhìn theo chiều hướng nào để tìm lối thoát hay làm thế nào để lẫn đến tự do. Ta cũng không biết cái thế gian bên ngoài ấy ở đâu, bởi vì ta chỉ thấy thế gian bên trong: cái ngục tù mà ta bị nhốt trong đó từ thủa nào. Trong đó đã từ lâu ta bị hành hạ, áp bức, bị bỏ đói, bị kềm kẹp hà khắc, bị đánh đập tra tấn và thiếu thốn mọi điều. Chí đến chỗ ngủ, thức ăn, đồ dùng -- tất cả mọi vật, đủ loại -- đều giống như một tù nhân trong khám đường. Mặc dầu vậy những người tù ấy có thể sống thản nhiên như thế kia, bởi vì họ không bao giờ thấy đủ thế gian bên ngoài để có thể so sánh xem cái nào hơn, để cảm nghe có ý muốn tìm con đường lẫn thoát đến thế gian bên ngoài.

Một cái tâm mà bị năng lực của ô nhiễm và những cơn thúc giục tinh thần kiểm soát là như vậy. Từ đại kiếp này đến đại kiếp kia nó bị đủ loại ô nhiễm giam cầm. Chẳng hạn như trong kiếp sống hiện tại, những ô nhiễm mà đã từng chi phối tâm của chúng sanh cùng ở với ta từ ngày ta mới ra đời. Nó đã liên tục giam hãm chúng ta, không bao giờ để cho tâm của chúng ta có chút tự do nào. Vì lẽ ấy rất khó cho chúng ta tưởng tượng được có thể có loại hạnh phúc nào vượt lên trên, thoát ra ngoài đường lối cho chúng ta tưởng tượng được có thể có loại hạnh phúc nào vượt lên trên, thoát ra ngoài đường lối hiện tại của sự vật, không khác nào người được sanh từ trong ngục thất và luôn luôn sinh sống trong nhà tù, chỉ biết cảnh tù tội.

Còn thế gian bên ngoài thì thế nào? Ðó có phải là nơi chốn tốt đẹp để viếng không? Hay là một chỗ thuận lợi để sinh sống? Giáo Pháp đã tuyên ngôn rành rẽ và vang rền, nhưng có mấy ai chú ý. Mặc dầu vậy, hữu hạnh thay, ở một vài nơi cũng có vài người lưu tâm đến, ở những nơi mà không có ai nói lên hay nhắc đến thế gian bên ngoài -- tức cái tâm thấm nhuần Giáo Pháp là thế nào, không ai hiểu biết những lời dạy của tôn giáo là như thế nào, không ai hiểu được hạnh phúc phát sanh từ Giáo Pháp là như thế nào. Những người đang ở trong hoàn cảnh tương tợ bị đêm tối bao trùm, hoàn toàn đắm chìm trong luyến ái, chỉ một cánh tay hay một cái chân cũng không ló được lên khỏi lớp mặt, bởi vì không có tôn giáo để kéo họ lên. Ðối với họ thế gian bên ngoài không có gì khác hơn là ngục tù, tức ô nhiễm, vốn cầm giữ, giam hãm tâm. Sanh ra trong thế gian, họ chỉ có có thế gian là nơi chốn để sống và để chết.

Tâm mà không bao giờ biết cái gì có thể đem lại cho nó biết nhiều hạnh phúc, tiện nghi và tự do hơn là tình trạng hiện tại của nó -- nếu chúng ta lấy một ví dụ khác để so sánh -- cũng giống như con vịt đùa giỡn trong vũng sình lầy nước đọng, dưới một cái sàn nhà cũ kỹ đổ nát. Nó vẫn vui đùa ở đó - quặt, quặt, quặt, quặt. Dầu nước dơ dáy bẩn thỉu nó vẫn hài lòng chơi giỡn như vậy, bởi vì chưa bao giờ thấy được nước mát trong của biển cả, của sông rạch, ao hồ hoặc một cái đầm đủ lớn để có thể lặn lội thoải mái. Nó chỉ biết nước bùn ứ đọng dưới một sàn nhà đổ nát, nơi đó người ta đùa quét xuống bao nhiêu đồ dơ dáy. Và nó thỏa thích bơi lội, lặn hụp, chơi đùa ở đó, nghĩ rằng như vậy là vui -- tại sao? Vì nó chưa từng thấy vùng nước rộng hơn, sâu hơn, để có thể bơi lội thỏa thích hơn là một vũng nước bùn ứ đọng dưới sàn nhà đổ nát.

Còn những con vịt sống dài theo kinh rạch, nước rộng và sâu, thì rất khác biệt với vịt sống dưới sàn nhà. Nó thật sự thỏa thích sống trên dòng sông, rạch, hay hồ, đầm. Chủ lùa đến đâu thì cứ đi -- lội băng ngang qua rồi lộn lại, tới lui trên những đường nước lớn nhỏ, lội tản mác từng đàn cả trăm hay cả ngàn con. Mặc dầu là vịt, nó có loại hạnh phúc của nó.

Ý nghĩa của câu chuyện vịt như thế nào?

Vịt giống như cái tâm. Một cái tâm mà không bao giờ thấy hạnh phúc, không bao giờ biết loại tiện nghi và thỏa thích phát sanh từ Giáo Pháp, cũng giống như con vịt chơi giỡn trong vũng bùn lầy dưới sàn nhà đổ nát hay những con vịt thỏa thích bơi lội trong dòng kinh đào, sông rạch hay hồ đầm.

Trong hiện tại chúng ta cảm nghe thỏa thích và có hạnh phúc, dưới năng lực kiểm soát của ô nhiễm, thì cũng giống như hạnh phúc của tù nhân sống trong ngục thất. Khi tâm đã trải qua sự rèn luyện của thế giới bên ngoài -- tức là sự rèn luyện của Giáo Pháp, vốn xuất phát từ các Pháp Siêu Thế (Lokuttara Dhammas), từ "cảnh giới" Niết Bàn trở xuống, xuống từng bậc đến cảnh người -- chúng ta thấy rằng trong hàng ngũ của chúng ta người hướng về, người cảm thấy hứng thú chú trọng đến thế gian bên ngoài, đến hạnh phúc quan trọng hơn là loại hạnh phúc hiện hữu trước mặt, những người ấy vẫn còn. Khi chúng ta lắng nghe Giáo Pháp, bước cao lên từng bậc, hoặc đọc những sách đề cập đến thế gian bên ngoài -- đến Giáo Pháp, đến trạng thái tự giải thoát ra khỏi những khổ đau phiền lụy mà chúng ta bị bắt buộc phải chịu -- tâm của chúng ta cảm nghe thỏa thích và hạnh phúc. Hứng thú. Một lòng ước muốn được nghe. Một ước nguyện được thực hành để có thể gặt hái thành quả, tiến từ bước một. Ðó là nơi mà từ đó ta bắt đầu nhìn thấy ảnh hưởng của thế gian bên ngoài. Tâm bắt đầu gia công cố gắng, tinh tấn chuyên cần, tận lực vượt thoát ra khỏi mọi cưỡng bách độc đoán và mọi áp bức từ bên trong, như hoàn cảnh một tù nhân trong ngục thất.

Trong lãnh vực rèn luyện tâm còn hơn thế nữa: càng thành đạt an lạc nhiều, ta càng gia công nỗ lực, càng tinh tấn hơn. Chú niệm và trí tuệ lần lần phát hiện. Ta nhận thức rõ ràng mối nguy hại của tình trạng độc đoán cưỡng bách và áp bức mà ô nhiễm bắt buộc ta phải chịu đựng trong tâm. Ta nhận thức giá trị của Giáo Pháp, vốn là phương tiện để thành tựu giải thoát. Càng được tự do, chúng ta càng cảm nghe thoải mái trong lòng. Thở ra. Hết nạn. Ðây là đường lối củng cố vững chắc và tăng trưởng, niềm tin và đức kiên trì tinh tấn của chúng ta lên từng bậc. Chú niệm và trí tuệ mà từ lâu bị chôn vùi dưới lớp bùn ô nhiễm giờ đây tỉnh dậy, sống trở lại và bắt đầu quán chiếu, suy niệm.

Trong quá khứ, bất luận gì nhảy vồ tới tấn công chúng ta xuyên qua nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân hay ý, ta đều giống như người đã chết rồi. Ta cho những điều đó là thông thường, tự nhiên. Nó không bao giờ khơi động chú niệm và trí tuệ để thúc giục chúng ta quán chiếu và khám phá, tìm hiểu đâu là mức khởi đầu và đâu là nơi chấm dứt, nguyên nhân và hiệu quả. Cho dù rằng những điều kia là kẻ thù truyền kiếp từ lâu, lâu lắm rồi, đã tấn công chúng ta cả ngày lẫn đêm, chúng ta không bao giờ lưu tâm đến. Tuy nhiên, giờ đây thì chúng ta chú trọng đến nó. Khi tâm bắt đầu thâm nhập vào luồng trôi chảy của Giáo Pháp mà trong đó nó được rèn luyện đến mức phát triển một căn bản cho niệm và tuệ thì từng bước một, đương nhiên nó sẽ nhận thấy rõ ràng cả hai -- những gì lợi ích và những gì gây tai hại -- bởi vì cả hai cùng ở chung với nhau trong tâm. Tâm càng trở nên điêu luyện hơn trong công trình quán chiếu và suy niệm thì nó càng trở nên mạnh dạn hơn trong việc tìm tòi khám phá. Khi nhận thấy tai hại tâm cố gắng cứu chữa và khi thấy lợi ích thì gia công khai triển, nỗ lực dưỡng nuôi thiện pháp ngày càng tăng trưởng.

Ðó là cái tâm tiến dần đến mức thành đạt tự do, giải thoát ra khỏi hoàn cảnh bị đàn áp dưới nạn độc tài -- cảnh ngục tù -- bên trong. Cùng lúc ấy nó cũng hé thấy thế gian bên ngoài, nhận thấy đó là loại thế gian nào và nhận thấy thế gian ấy có giống cái ngục tù mà trong hiện tại nó đang ở không. Ðến một mức độ nào chính mắt chúng ta có thể trông thấy thế gian bên ngoài và có một ý niệm về cuộc sống của những người ở trong thế gian ấy như thế nào, họ đến như thế nào và đi như thế nào -- còn chúng ta, sống trong cảnh ngục tù, thì sao? Trong tình cảnh bị ô nhiễm tràn ngập thì đời sống như thế nào? Khi mà gánh nặng ô nhiễm dần dần được đặt xuống thì tâm cảm nghe nhẹ nhàng như thế nào? Chừng đó ta có thể thấy bắt đầu so sánh.

Sau cùng, giờ đây ta có được hai đối tượng để so sánh -- thế gian bên ngoài và thế gian bên trong. Trạng thái an lạc và thoải mái, phát sanh do công trình loại trừ ô nhiễm, ít hay nhiều, bắt đầu khởi hiện. Tình trạng đau khổ và vọng động, vốn còn liên tục tiếp diễn giờ phút nào mà ô nhiễm còn gieo ảnh hưởng, ta hiểu biết rõ ràng. Do trí tuệ ở nhiều tầng lớp khác nhau chúng ta nhận thức tai hại của ô nhiễm và chúng ta gia công tiếp tục chuyên cần cứu chữa tình trạng, không để cho hạnh nhẫn nhục kiên trì suy giảm.

Ðó là khi mà chú niệm, trí tuệ, niềm tin vững chắc và hạnh nhẫn nhục kiên trì, mạnh mẽ trổi dậy và vượt lên hàng tiền đạo: khi mà ta thấy cả hai, thế gian bên ngoài -- dầu ít hay nhiều mà ta có thể giải phóng cái tâm ra khỏi ô nhiễm -- và thế gian bên trong nơi mà ô nhiễm vẫn còn tiếp tục đàn áp và cưỡng bách. Trước kia, ta không bao giờ biết gì khác để so sánh, bởi vì ta chưa bao giờ thấy gì khác hơn là hoàn cảnh hiện tại. Từ lúc ra đời ta bị chôn vùi trong đau khổ và phiền muộn, nào biết gì đến tình trạng an lạc của thế gian bên ngoài -- của Giáo Pháp.

Cái hạnh phúc mà trước kia chúng ta được biết chỉ là loại hạnh phúc luôn luôn chứa đựng đau khổ, vốn ẩn núp chực hờ ở hậu trường và luôn luôn sẵn sàng để nhảy sổ ra bóp nghẹt hạnh phúc trong nháy mắt.

Giờ đây ta bắt đầu hiểu biết và nhận thấy. Chúng ta nhận thấy cái hạnh phúc ở bên ngoài, hạnh phúc của thế gian bên ngoài, của những vị đã được có Giáo Pháp thấm nhuần trong tâm; và chúng ta thấy cái hạnh phúc bên trong ngục tù, hạnh phúc dưới sự chi phối của ô nhiễm. Chúng ta cũng nhận thấy đau khổ và vọng động nằm trong phạm vi ảnh hưởng của ô nhiễm. Chúng ta thấu hiểu tất cả, một cách rõ ràng, nhờ chú niệm và trí tuệ của chính ta.

Cái hạnh phúc mà đến với ta từ thế gian bên ngoài -- từ luồng trôi chảy của Giáo Pháp, đã thấm nhuần và ăn sâu vào tâm -- chúng ta bắt đầu nhận thấy dần dần, đủ để có thể so sánh. Chúng ta thấy thế gian bên ngoài, thế gian bên trong, và chúng ta nhận thấy những lợi ích và những điều bất lợi. Khi đem hai thế gian ấy ra so sánh, sự hiểu biết của chúng ta càng mở rộng, đức kiên trì tinh tấn và nhẫn nhục chịu đựng càng lớn mạnh, đến độ khi có chi liên hệ với ô nhiễm đi phớt ngang qua, ô nhiễm mà trước kia từng độc đoán áp bức tâm ta, chúng ta liền cấp tốc đối phó, chữa trị nó, đánh đuổi và tiêu diệt nó dần dần bằng oai lực của chú niệm và trí tuệ, với sự hỗ trợ của tinh tấn.

Tâm tự nó tăng cường hoạt động. Càng tự cảnh giác mối nguy hại của thế gian bên trong ta càng quý trọng những lợi ích của thế gian bên ngoài. Khi lòng ham muốn hiểu biết và nhận thấy Giáo Pháp và lòng ham muốn giải thoát tăng trưởng thì đức kiên trì tinh tấn sẽ khởi dậy và trở nên lớn mạnh, vởi vì tất cả đều cùng ở chung nhau trong một cái tâm. Khi ta thấy tai hại, đó là trọn cái tâm thấy. Khi ta thấy lợi ích, đó là trọn cái tâm thấy. Khi chúng ta dùng những phương pháp khác nhau tùy hợp với khả năng mình, cố gắng khai triển con đường của chúng ta thì đó là công trình của toàn thể cái tâm nhằm nỗ lực tự giải thoát.

Vì lẽ ấy, những pháp như hạnh tinh tấn, vốn là khí cụ và hỗ trợ cho tâm, phát sanh cùng một lúc. Thí dụ như saddha, niềm tin vững chắc nơi: Ðạo (Magga) và Quả (Phala), nơi một cảnh giới vượt ra ngoài đau khổ và vọng động; nơi Viriya, đức kiên trì tinh tấn nhằm thành đạt giải thoát cho mình, dần dần từng bước một; nơi Khanti, đức nhẫn nại chịu đựng nhằm thoát ra khỏi và vượt đến bờ bên kia. Tất cả những pháp ấy đều phát sanh cùng một lúc. Chú niệm và trí tuệ, quán chiếu và suy niệm dài dài theo con đường, nhận thấy điều nào là chánh, điều nào là tà, sẽ cùng lúc khởi dậy và phát hiện.

Nếu chúng ta xử dụng những danh từ chánh thức của Giáo Pháp như xưa kia Ðức Phật dùng thì hiện tượng ấy được gọi là Magga Samangi, sự tập trung vào con đường, dần dần tự gom vào một cái tâm duy nhất. Tất cả đều gom chung vào: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, ... dần đến Chánh Ðịnh, tất cả đều cùng nhau hội tụ vào một cái tâm. Không đi nơi nào khác.

Chánh Kiến, Chánh Tư Duy. Hai chi này liên quan đến trí tuệ, luôn luôn quán trạch và khảo sát các Uẩn (Khandha), bất luận điều gì khởi hiện và xúc phạm, phát sanh và hoại diệt, dầu thiện hay bất thiện, quá khứ hay vị lai, bất luận gì xảy đến tâm và tan biến. Dần dần, từng bước một, chú niệm và trí tuệ đập nát những hiện tượng ấy ra thành mãnh vụn, dầu có phải mất thì giờ.

Chánh nghiệp, hay tạo nghiệp chân chánh. Phương cách duy nhất của chúng ta để tạo nghiệp chân chánh là hành thiền, bởi vì chúng ta đã tiến đến giai đoạn thực hành chính xác. Tâm trọn vẹn ở trong trạng thái hội tụ vào Con Ðường (Ðạo). Về thể xác, Chánh Nghiệp là ngồi thiền (thiền tọa) và đi kinh hành (thiền hành), cố gắng dứt bỏ, diệt trừ ô nhiễm dầu chúng ta đi, đứng, hay nằm, ngồi. Về mặt tâm linh thì đây là đức tinh tấn kiên trì bên trong.

Chánh Ngữ. Chúng ta chỉ nói Giáo Pháp (Dhamma). Trong những cuộc đàm thoại chúng ta chỉ đề cập đến vấn đề loại trừ, gọt dũa hoặc gội rửa ô nhiễm và phiền não trong tâm. Ðó là Chánh Ngữ.

Chánh Mạng. Khi tâm móng đến một đối tượng được xem là thù nghịch với nó thì đó là dưỡng nuôi Tà Mạng. Bởi vì đối tượng ấy là kẻ thù của tâm, nó sẽ bao phủ tâm trong một lớp khói và làm lu mờ. Không có chi là tốt đẹp. Tình trạng này sẽ đưa đến đau khổ và phiền muộn, nhiều hay ít tùy theo mức độ mà tâm thô thiển trở nên vi thế nhiều hay ít. Ðó là chất độc. Tà Mạng. Ðã là Tà Mạng thì ta phải sửa chữa ngay lập tức. Lập tức.

Bất luận pháp, hay đối tượng nào của tâm là chân chánh, dẫn đến hạnh phúc, tình trạng an lành và thoải mái, thì đó là sinh hoạt thích nghi, là thức ăn thích ứng nhằm cung cấp cho tâm trạng thanh bình và tự tại. Chánh Mạng được Giáo Pháp bảo trì là như vậy, ngày càng thăng tiến, từ mức này đến mức độ cao hơn, trong công phu rèn luyện tâm. Còn trong lãnh vực vật chất, Chánh Mạng liên quan đến vật thực và hạnh trì bình. Ðây là vấn đề phổ cập trong giới Phật Tử nói chung, mỗi người gìn giữ đức hạnh đúng theo nhiệm vụ cá nhân của mình.

Chánh Tinh Tấn. Loại tinh tấn nào? Ðức Phật dạy bốn loại tinh tấn.

1.  Thận trọng cố gắng ngăn ngừa, không để cho ác pháp khởi sanh trong tâm.

2. Cố gắng loại trừ những ác pháp đã phát sanh.
Trong lúc thận trọng cố gắng không để cho ác pháp phát sanh ta thận trọng bằng cách chuyên cần chú niệm. Dùng chú niệm ngăn ngừa, không để cho ác pháp phát sanh có nghĩa là luôn luôn giác tỉnh nhìn xem, trông chừng cái tâm tư suy tư và phóng dật, nhảy phóng bất định đầu này đầu kia rồi gom thâu trở về phiền muộn, đau khổ và vọng động. Vì lẽ ấy ta phải cẩn mật canh phòng, không nên hờ hững buông lung.

3. Cố gắng khơi dậy, làm phát sanh những gì là thiện pháp mà chưa phát sanh, để rồi tăng trưởng dần dần.

4. Cố gắng duy trì các thiện pháp đã phát sanh và cải thiện, làm cho nó càng dồi dào phong phú thêm, thay vì thoái bộ.

Tất cả bốn Chánh Tinh Tấn trên đều nằm bên trong chúng ta.

Chánh Niệm. Canh phòng, trông chừng tâm của ta. Chú niệm và tự hay biết mình, tức có trí nhớ và biết mình, luôn luôn theo dõi sinh hoạt và hạnh kiểm của tâm. Bất luận gì tiếp xúc với mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, nếu không đi thẳng vào tâm thì đi đâu? Tâm là cái trạm khổng lồ luôn luôn sẵn sàng thâu nạp tin tức, những dữ kiện về những sự vật khác nhau, tốt cũng như xấu. Trí tuệ quán chiếu, suy xét và quyết định. Chú niệm canh phòng, duyệt xét tất cả những gì nhập vào tâm. Bất cứ sinh hoạt nào nhập vào tâm, dầu thiện hay bất thiện, đều trải qua sự quán chiếu và tuyển chọn của chú niệm và trí tuệ. Và bất cứ gì mà chú niệm và trí tuệ xét là không thích nghi thì tâm sẽ loại bỏ tức khắc. Tức khắc. Trí tuệ làm phần việc loại bỏ.

Chánh Ðịnh, công trình của chúng ta nhằm làm lắng dịu ô nhiễm bằng cách trụ tâm, phải bền bỉ, vững chắc và đều đặn cho đến lúc thành quả an lạc thanh bình và tĩnh lặng phát sanh trong tâm. Rõ ràng là nơi ngơi nghỉ thật sự, không có gì đến để làm cho tâm chao động.

Khi nhập định để cho tâm nghỉ ngơi nhằm tăng cường năng lực của trí tuệ trong nhiệm vụ liên tục quán chiếu nó, ta phải nhất quyết thực hành và thật sự ngơi nghỉ -- an nghỉ trong trạng thái tâm định. Hoàn toàn chấm dứt mọi suy tư và quán chiếu . Ðể cho tâm an trụ và ngơi nghỉ. Không nên cho nó suy tư hay tưởng tượng gì cả. Hãy để tâm ngơi nghỉ một cách thoải mái. Trong trường hợp tâm quá đổi hăng say, dính kẹt trong công tác quán chiếu của nó đến đổi ta không thể điều khiển được, hãy niệm "Buddho" (Bút-thô), như một phương tiện kéo nó ra. Giữ tâm ở với "Buddho, Buddho, Buddho". Mặc dù tiếng "Buddho", dùng như phương tiện gom tâm, chỉ là một công án (đề mục) được tạo nên, nhưng nó có tác dụng cột tâm vào một điểm và làm cho tâm lắng dịu. Trong khi một niệm "Buddo, Buddho, Buddho" nếu tâm nhảy vọt trở lại về công việc quán chiếu còn dỡ dang của nó ta phải niệm càng nhanh hơn để cột nó lại. Nói cách khác, khi cái tâm đến giai đoạn mê say trong việc làm của nó, ta có thể nói -- theo ngôn ngữ người đời -- rằng không thể hơ hỏng buông trôi thả lỏng công trình canh phòng chặt chẽ của ta, mặc dầu đến mức này khó mà nói rằng tâm đã buông lơi công việc của nó. Ðể gần thực tế hơn, phải nói rằng ta không thể lơ đểnh nới lỏng sự canh phòng. Hay nói một cách đơn giản, ta không thể buông lơi. Không vậy tâm sẽ nhảy vọt trở về việc làm của nó. Do đó, đến thời điểm này ta phải vững vàng giữ chắc công án chú niệm. Bắt buộc tâm phải nằm im trong đề mục duy nhất, "Buddho". Danh từ này được xem như phương tiện để kềm chế, giữ tâm lại một điểm. Hãy lặp đi lặp lại niệm thật nhặt và thật nhanh. Chừng đó, "Buddho" và tâm sẽ trở thành một, đồng nhất. Tâm sẽ vững chắc không thể lay chuyển và lắng dịu, dịu lần, ngơi nghỉ, ngơi nghỉ gác qua một bên công việc quán chiếu. Tâm sẽ trở nên mát mẻ và an lạc. Ðó là Chánh Ðịnh.

Khi thời giờ đến để nghỉ ngơi ta phải ngơi nghỉ như thế ấy mới có thể gọi là Chánh Ðịnh. Khi cảm nghe đủ, khi ta thấy rằng tâm đã hồi phục đầy đủ năng lực, chừng đó hãy thả đi, không kềm lại nữa -- chỉ có thế -- tâm liền phóng trở về công việc quán chiếu của nó trong tức khắc. Nó phóng đi từ trạng thái nhất điểm, chỉ là một cùng với đề mục và trở lại thành hai, với công việc cũ. Chừng ấy tâm trở lại việc làm quán chiếu và trong khi làm việc, không còn lo lắng gì đến an trụ.

Cùng thế ấy, khi gom tâm an trụ để làm cho nó vắng lặng thì không lo nghĩ gì đến quán chiếu. Khi nghỉ ngơi, ta phải nghỉ. Cùng thế ấy, khi ăn ta không nên làm gì khác hơn là ăn. Khi ngủ, hãy ngủ an lành. Không nên lo lắng đến việc làm nào khác. Nhưng một khi bắt đầu làm việc thì chớ nên thắc mắc gì đến ăn uống hay ngủ nghỉ. Hãy thật sự chú tâm vào việc mình đang làm. Ðó là làm việc chắc chắn vững vàng: việc làm đúng vào giai đoạn thích nghi, đúng lúc, và thích ứng với tiến trình công tác. "Chánh Nghiệp", việc làm thích nghi, không vượt quá giới hạn.

Pháp hành an trụ tâm phải được chú trọng, không nên xem thường. Quan điểm chủ trương rằng định tâm, làm cho tâm an tĩnh và vắng lặng, không đem lại lợi ích gì, là sai lầm. Nếu người kia say mê trong trạng thái định, không muốn xuất ra khỏi trạng thái ấy để quán chiếu sự vật thì đó là không đúng và phải bị chỉ trích. Phải xuất ra khỏi định để hoạt động. Nhưng khi tâm mãi mê hăng say với việc làm, trong một vài trường hợp, vào một lúc nào, định tâm là cần thiết. Thế thường, nếu làm việc mà không ngơi nghỉ hay thiếu ngủ, sau cùng chúng ta sẽ kiệt lực và không thể tiếp tục. Ðôi khi tiền bạc của chúng ta vơi cạn vì ta mua vật thực để ăn, hãy để cho tiền của vơi cạn -- bởi vì có ăn cơ thể mới đủ năng lực trở lại tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của nó. Mặc dầu tiền bac ta đã xài hết, vật thực ta đã ăn hết, nhưng nó hết mà có mục đích: tạo năng lực cho cơ thể. Bất luận gì phải tiêu thụ, hãy tiêu thụ, bởi vì nó không làm trở ngại mục tiêu. Nếu ta không ăn thì lấy lại sức khỏe ở đâu? Bất luận gì phải chi tiêu, hãy chi tiêu để bảo trì sức khỏe, nhằm mục đích gìn giữ sức mạnh.

An trú trong trạng thái an định cũng vậy. Khi chúng ta ngơi nghỉ để cho tâm an tĩnh, trạng thái an tĩnh ấy là sức khỏe của tâm và nhờ đó tâm có thể tăng cường trí tuệ, làm cho trí tuệ càng bén nhạy hơn. Phải ngơi nghỉ để được an tĩnh. Nếu không có trạng thái an tĩnh, nếu chỉ có trí tuệ mà không có gì khác, thì cũng như lưỡi dao mà không được mài dũa. Ta mãi cứ chặt -- chột, chột, chột -- nhưng khó mà nói được là ta chặt đúng bề bén của lưỡi dao hay bề cạnh.

Ta chỉ ham muốn, muốn biết, muốn thấy, muốn thấu triệt, muốn loại trừ ô nhiễm, mà trí tuệ thì không được mài dũa bằng cách an trụ tâm vào trạng thái an tĩnh -- vốn là sự tăng cường giúp đem lại năng lực và an lạc cho tâm -- và như vậy, cũng giống như lưỡi dao mà không được mài dũa. Dầu muốn chặt gì cũng khó dứt. Chỉ hoài công, phun phí năng lực.

Như vậy, trong khi gom tâm vào "tổ ấm an trụ" của nó, ta phải để nó ngơi nghỉ. Ngơi nghỉ cũng giống như dùng đá mài để mài trí tuệ. Cơ thể được nghỉ ngơi thân sẽ khỏe mạnh. Cùng thế ấy, tâm ngơi nghỉ tăng cường sức lực tinh thần.

Khi đã trải qua giai đoạn ngơi nghỉ tâm có đầy đủ năng lực, giống như lưỡi dao đã được mài dũa đúng mức. Ðối tượng của tâm vẫn là đối tượng xưa, trí tuệ vẫn là trí tuệ xưa, người quán chiếu vẫn là người xưa, nhưng giờ đây tâm quán chiếu đã được điều chỉnh bén nhạy, nó sẽ chặt đứt dễ dàng bất cứ gì. Hành giả giờ đây cũng như người ăn uống ngủ nghỉ đầy đủ, xử dụng một con dao mới mài sắc bén. Người ấy chặt, cũng khúc cây xưa, cũng người ấy như xưa, xử dụng cùng một con dao như xưa, nhưng giờ đây người kia chặt khúc cây đứt lìa trong khoảnh khắc, không chi trở ngại -- đó là vì dao bén, người khỏe.

Cũng thế ấy, đối tượng của tâm vẫn là đối tượng xưa, trí tuệ vẫn là trí tuệ xưa, hành giả vẫn là người xưa, nhưng dụng cụ đã được mài dũa sắc bén. Tâm có nhiều năng lực để tăng cường trí tuệ và như vậy, trí tuệ sẽ chặt đứt bất cứ gì trong nháy mắt -- một khác biệt lớn lao đối với tâm mà không được ngơi nghỉ trong định.

Như vậy, định và tuệ tương quan với nhau mật thiết. Nó chỉ làm việc trong hai thời kỳ khác nhau mà thôi. Khi đến lúc định tâm, hãy định tâm. Khi thời gian đến để dùng trí tuệ quán chiếu sự vật, hãy tận dụng trọn vẹn mọi nỗ lực -- trọn vẹn, giác tỉnh và xử dụng trọn vẹn năng lực. Trọn vẹn tận lực thành đạt Giáo Pháp, trọn vẹn gieo nhân và trọn vẹn gặt quả. Cùng thế ấy, khi ngơi nghỉ hãy để tâm ngơi nghỉ trọn vẹn. Hãy thực hành riêng biệt hai việc, quán chiếu và ngơi nghỉ, vào hai thời kỳ khác nhau. Không nên để việc này xen lẫn vào việc kia -- như khi trí tuệ quán chiếu sự vật chẳng hạn, không nên lo lắng đến việc định tâm, hoặc trong khi nhập định không nên bận rộn suy nghĩ đến những hoạt động của trí tuệ -- đó là hành sai. Làm việc nào hãy chăm chú vào việc ấy mà tiến hành, thật sự làm việc ấy một cách vững vàng. Ðó là đường lối chân chánh, ấy là pháp hành thích nghi. Chánh Ðịnh thật sự phải là vậy!

Khi trí tuệ dần dần bắt đầu tiêu diệt ô nhiễm thì tâm trở nên trong sáng. Trạng thái tâm sáng tỏ là một trong những lợi ích mà hành giả thành đạt khi đã loại trừ những gì tai hại, những gì uế trược. Chúng ta nhận thấy giá trí của lợi ích ấy và càng nỗ lực tiếp tục quán chiếu.

Ô nhiễm là vấn đề đè nặng trong tâm. Từ thủa mới sanh ra đời tâm của ta tự hồ như tên tù nhân, luôn luôn bị ô nhiễm và phiền não áp đảo, cưỡng bách và tra tấn kềm kẹp. Khi ta theo dõi đến tận nơi, ô nhiễm ở đâu? Nó phát sanh và tồn tại ở nơi nào? Ngay tại đây, trong cái tâm này. Tất cả những gì khác chỉ là cành, lá -- ở mắt, tai, mũi, lưỡi và thân -- nhưng thật sự cái thân cây thì ở tâm. Khi ta quán chiếu những cái ấy tập trung gom lại, gom nhỏ lại, và tụ hội trong cái tâm duy nhất này. Vòng quanh những kiếp sống không phải là gì khác lạ: Nó chỉ là cái tâm duy nhất này, xoay vầng quanh quẩn. Chính cái tâm duy nhất ấy đưa chúng ta mãi mãi sanh tử, tử sanh. Tại sao? Bởi vì hột giống của vòng quanh sanh tử nằm trong tâm.

Khi chúng ta dùng chú niệm và trí tuệ để quán chiếu, khảo sát, nhận thấy rõ ràng và chúng ta liên tục gia công cắt vào, xén vào, đi sâu vào từng bậc, từng bậc, cho đến tận cái tâm, vốn là sào huyệt, nơi ẩn náu của Vô Minh (Avijja), hột giống quan trọng của vòng quanh. Chúng ta tiếp tục gia công mổ xẻ, tiếp tục quán chiếu vào, vào nữa, cho đến khi không còn gì để có thể nói "cái này là cái này" hay "cái kia là cái kia".

Chúng ta tập trung công trình quan chiếu tâm giống như chúng ta quán chiếu các pháp nói chung. Dầu lúc bấy giờ tâm sáng tỏ như thế nào chúng ta phải nhận thức rằng đó chỉ là nơi ngơi nghỉ tạm thời, ngày nào mà ta chưa có đủ khả năng trạch quán sâu vào để phân tán và tiêu diệt nó. Nhưng chớ quên rằng ngôi sao sáng tỏ trong tâm cũng chỉ là Vô Minh. Vậy, hãy quán chiếu thêm, lấy đó làm đối tượng để tập trung công trình quán chiếu.

Nếu công trình quán chiếu này bị trở ngại không còn hay biết gì, đến độ "người hiểu biết" cũng bị tiêu diệt luôn, hãy cứ tiếp tục quán chiếu, truy tầm đến tận cùng. Chúng ta quán chiếu để tìm chân lý, để thấu hiểu chân lý, do đó ta phải theo dõi đến tận cùng những nhân và những quả, đến chân lý cùng tột của tất cả mọi sự vật, đủ loại. Dầu có gì phải bị tiêu diệt, hãy để nó tiêu diệt. Cho dù cuối cùng "người hiểu biết" mà đang quán chiếu cũng bị tiêu diệt luôn thì chừng ấy hãy dùng chú niệm và trí tuệ mà tìm hiểu. Chúng ta chớ nên để sót lại bất cứ gì như một hải đảo hay một lợi điểm mà nó có thể bám vào để lừa phỉnh ta.

Bất luận gì là "Chúng Ta", bất luận gì là "Của Chúng Ta", chớ nên để nó đứng vững. Hãy quán chiếu đến chân lý tận cùng của tất cả mọi sự vật.

Sau khi ô nhiễm Vô Minh đã hoàn toàn bị tận diệt, những gì còn lại đã vượt qua khỏi lãnh vực mà các pháp quy ước tại thể có thể đạt đến, hay có thể tiêu diệt.

Ðó là tâm thanh tịnh, hay trạng thái thanh tịnh, hoàn toàn trong sạch. Không có gì có thể tiêu diệt được trạng thái thanh tịnh này.

Ô nhiễm là thực tại quy ước, có thể phát sanh và tan biến. Do đó ta có thể gội rửa, làm cho nó trở nên sạch hơn, ta có thể làm cho nó tăng trưởng, làm cho nó suy giảm hay làm cho nó hoại diệt bởi vì nó thuộc về thế gian pháp, nó là thực tại quy ước. Nhưng cái tâm thanh tịnh và đơn giản -- hiện tượng được gọi là tâm giải thoát -- đã vượt ra ngoài phạm vi mà bất luận ô nhiễm nào có thể lẫn đến và tiêu diệt, bởi vì tất cả ô nhiễm đều là pháp tại thế. Nếu tâm chưa hoàn toàn trong sạch thì vẫn còn là thực tại quy ước như các pháp tại thế khác vì còn bị những phần tử quy ước len lỏi xâm nhập vào. Một khi toàn thể các ô nhiễm đã bị loại trừ thì không còn ô nhiễm nào có thể xúc phạm hiện tượng giải thoát, bởi vì đã vượt ra khỏi phạm vi mà ô nhiễm có thể lẫn đến. Vậy thì cái gì bị tiêu diệt?

Ðau khổ chấm dứt, bởi vì nguyên nhân sanh đau khổ chấm dứt. Nirodha -- sự chấm dứt đau khổ -- cũng chấm dứt. Con đường, dụng cụ để quét sạch nhân sanh đau khổ, cũng chấm dứt. Toàn thể Tứ Diệu Ðế đều chấm dứt.

Tuy nhiên, lắng nghe đây! Cái mà hiểu biết rằng "nó chấm dứt", cái đó không phải là Diệu Ðế. Chính mục tiêu của công trình quán chiếu Tứ Diệu Ðế là đạt đến cái ấy. Một khi ta đã đạt đến chân lý thì Tứ Diệu Ðế không còn vai trò nào nữa hết. Không cần phải gột rửa, cứu chữa hay loại trừ. Như trí tuệ chẳng hạn: Chúng ta đã sử dụng nó đến cùng, giờ đây ta có thể buông thả trí tuệ, không còn cần phải khép nó vào khuôn khổ kỷ cương nữa. Cả hai, chú niệm và trí tuệ, là những khí cụ cần thiết để ta xử dụng ở chiến trường. Một khi chiến tranh đã chấm dứt, kẻ thù đã bị quét sạch, thì những phẩm hạnh ấy ắt không thành vấn đề.

Cái gì còn lại? Trạng thái thanh tịnh, sự trong sạch. Khi tuyên ngôn Giáo Pháp cho thế gian, chính từ trong bản chất thanh tịnh này mà Ðức Phật lấy ra Giáo Pháp. Giáo lý của đạo Phật pháp xuất từ bản chất trong sạch này, và theo phương cách mà Ðức Phật áp dụng để giáo huấn thế gian, Ngài giảng về đau khổ, nguyên nhân sanh đau khổ, sự chấm dứt đau khổ và con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ bởi vì những trạng huống này trực tiếp liên quan đến tâm. Ngài dạy cho chúng ta biết phải làm thế nào để sửa sai, để chấm dứt, để kiên trì tinh tấn. Ngài dạy tất cả, đầy đủ, để ta đi suốt con đường đến mục tiêu cứu cánh, đến mức tận cùng của con đường. Sau đó không còn gì cần phải nói nữa.

Ðó là thanh tịnh. Tâm đã vượt ra đến thế gian bên ngoài. Nó đã lìa bỏ ngục tù và bước ra thế gian bên ngoài -- tự do, giải thoát -- không bao giờ lâm vào cảnh ngục tù trở lại.

Tuy nhiên, không có ai muốn đi đến thế gian ấy hết, bởi vì không ai thấy nó bao giờ. Ðây là một thế giới quan trọng -- lokuttara, siêu thế, một cảnh giới cao trội hơn các cảnh giới khác -- nhưng ta chỉ giản dị gọi nó là thế gian bên ngoài, vượt ra ngoài tất cả những quy ước. Chúng ta chỉ tạm dùng một danh từ quy ước để gọi nó là "thế gian". Chỉ là một hình ảnh ngôn ngữ. Bởi vì thế gian của chúng ta có những quy ước, ta quen sống trong những quy ước, do đó ta phải nói như vậy.

Quý vị hãy suy tư cặn kẽ để tìm đường lẫn thoát ra khỏi cái ngục tù này. Quý vị chào đời từ trong ngục tù, sanh trưởng trong tù, và chết trong tù. Không có lần nào, quý vị chết bên ngoài ngục thất. Vậy hãy thử một lần! Thử đem cái tâm của quý vị ra khỏi ngục tù một lần. Quý vị sẽ cảm nghe thật sự thoải mái -- thật sự thoải mái! -- như Ðức Phật và các Thánh Ðệ Tử của Ngài: Các vị ấy cũng được sanh ra đời từ trong ngục tù như quý vị, nhưng các Ngài lìa đời ngoài cảnh lao tù. Các Ngài tịch diệt ở bên ngoài thế gian, không phải trong thế gian tù tội chật hẹp này.

^^^

-ooOoo-


Mục lục 

Phần I 

Phần II 

Phần III 

121. Nhà sư trong tâm
122. Thời gian biểu hàng ngày - Năng lực ý chí
123. Nghĩa địa trong tâm
124. Cây Bồ Đề trong tâm
125. Đi đến thị trấn Sakol Nakhorn - Những bức ảnh của Ngài
126. Võ sỹ trứ danh nhưng không biết chuyện trò - Chánh tinh tấn
127. Dạy những gì đã chứng nghiệm chứ không phải phỏng đoán
128. Ngày đầu tiên gặp Ngài Acharn
129. Cách dạy đầy tài ứng biến
130. Khuyên dạy, nhắc nhở và khuyến khích riêng cho từng người

131. Lợi ích vô biên nhờ ảnh hưởng của bậc trí tuệ và đức hạnh
132. Khu rừng ẩn dật Nong Phue Trung tâm của các vị tỳ khưu đầu đà
133. Cuộc sống ẩn dật trong rừng
134. Đi bộ - một loại tinh tấn
135. Kết quả đền đáp lại mọi sự nhẫn nại và hy sinh
136. Giáo Pháp không bao giờ không thích hợp, không thể thực hành, hay lỗi thời
137. Chuẩn bị cho điều không thể tránh
138. Kiềm chế vật thực
139. Dưỡng nuôi ô nhiễm – chỉ có dấu hiệu tượng trưng ắt không đủ
140. Sự thách thức của Giáo Pháp

141. Một vị thiền sư giúp đệ tử như thế nào
142. Lý do Ngài Acharn lưu lại một nơi nào đó
143. Khả năng tha tâm thông của một bà tín nữ
144. Đương đầu với thử thách
145. Giáo Pháp hộ trì người thực hành Giáo Pháp
146. Gương trí tuệ và sự kham nhẫn
147. Cái chết của hai vị tỳ khưu
148. “Một người cứng cỏi” không sợ cọp – Hãy coi những gì mình sợ là thầy của mình
149. Tại làng rừng Nong Phue
150. Pháp hành khắc khổ để ít nhất là làm ô nhiễm kinh sợ tránh xa

151. Cơn bệnh cuối cùng của Ngài Acharn
152. Dòng người đến thăm Ngài không dứt
153. Thời Pháp vi diệu của Ngài Acharn
154. Gương kham nhẫn và buông xả khỏi tình trạng của thân
155. Lệnh của Ngài bảo rời Ngài đi nơi khác
156. Sự ra đi của Ngài Acharn
157. Tại Bahn Phoo khách thăm vô cùng tận
158. Đến Sakol Nakhorn, nơi Ngài Acharn hoàn toàn viên tịch
159. Hoàn toàn viên tịch
160. Bản chất tâm phàm phu

161. Người nghèo nhất và người giàu nhất
162. Người dân tuyệt vời của Sakol Nakhorn
163. Lễ hỏa táng
164. Phép lạ
165. Gỗ trầm dùng để hỏa táng - Phân phát tro
166. Tâm toàn quyền điều khiển việc tiến bộ hay thụt lùi
167. Thời gian chán nản và cảm thấy cô đơn
168. Tro của Ngài Acharn trở thành xá lợi
169. Tại sao tro trở thành xá lợi
170. Những vị thiền sư nổi tiếng trong sự phát triển của đất nước

171. Phát triển tâm – nền tảng của sự phát triển ngoài đời
172. Độ chín muồi của từng người quyết định mức độ tiếp thu
173. Chân thật là một phẩm hạnh của chư thiên
174. Những chiều sâu khác nhau của lòng chân thật
175. Điều không biết và điều không thể biết
176. Trường hợp một cái tâm lươn lẹo
177. Long vương để lại dấu chân
178. Tuệ minh sát đa dạng của Ngài
179. Kiểm tra khả năng tha tâm thông của Ngài Acharn
180. Phra Acharn Chob mạo hiểm với cọp

181. Cuộc mạo hiểm của Ngài Acharn Chob tại Miến Điện và một con cọp cận vệ
182. Một vị trời dâng vật thực
183. Liên hệ giữa Ngài Acharn và chư vị đệ tử
184. Những lời dạy cuối cùng của Ngài Acharn
185. Sám hối và chúc phúc

^^^


-ooOoo-

121. Nhà sư trong tâm 


Vào thời bấy giờ, khả năng tha tâm thông và thần giao cách cảm của Ngài Acharn không ai bì kịp. Ngài đối xử với người khác, dù là khách hay đệ tử, tỳ khưu hay cư sỹ đặc biệt khác nhau và tùy từng cá nhân, không có một mẫu chung cho tất cả mọi người và cho mọi trường hợp.

Trong mùa an cư kiết hạ tại Wat Nonenivet trong thành phố Udorn Thani có nhiều vị tỳ khưu tu tập dưới sự hướng dẫn của Ngài. Lúc bấy giờ ngôi chùa vắng vẻ và yên tĩnh hơn ngày nay vì không có đông người và nhiều xe cộ. Tất cả những ai đến đó đều đến với thiện tâm và do đó rất lễ phép khiêm cung. Không ai đến với ác ý, dù là cố tình hay vô tình. Những vị tỳ khưu và sāmaṇera ở đó có thể tận dụng thời gian và trau dồi tâm mà không bị sao nhãng hay ngắt quãng. Dó đó có có một số khá đông quý vị tỳ khưu thành tựu cái mà họ ước vọng.

Về đêm, trong giờ dành riêng để ban truyền giáo huấn đến chư vị tỳ khưu, Ngài thường khởi đầu về giới đức rồi sang định, tuệ và giải thoát. Ngài đi sâu vào khía cạnh thực hành của Giáo Pháp - hành giả phải tu tập thế nào để gặt hái những thành quả đưa đến Giáo Pháp nhiệm màu.

Ngài thường nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giữ giới, vốn là đặc điểm của đời sống tỳ khưu. Hành giả không nên xem thường tầm quan trọng của giới, không bao giờ nên nghĩ rằng đó chỉ là chuyện nhỏ. Không nghiêm chỉnh trì giới dưỡng nuôi tâm không biết hổ thẹn và sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm các điều cấm khác. Bằng cách cẩn trọng nghiêm trì giới đức, hành giả không bị tâm tội lỗi khuấy động, và sớm hay muộn sẽ thọ hưởng tính tỳ khưu trong tâm, có nghĩa Đạo và Quả nhập lưu, nhất lai, bất lai, và Alahan, nếu hành giả cộng thêm vào việc trì giới với tinh tấn trong thiền định và thiền tuệ. Cái đó sẽ giúp hành giả vững chắc thanh lọc tâm ô nhiễm. Đó là ý nghĩa của từ “phra” (từ chữ vara của tiếng Pāli, có nghĩa là tuyệt vời), có nghĩa là tư cách gương mẫu trong lời nói, trong hành động và tuyệt vời về giới đức, thiền định, trí tuệ, giải thoát và tuệ giải thoát.

Nếu không trau dồi và phát triển nội tâm, vị tỳ khưu ắt bị những tiếng thì thầm của bất thiện pháp thiêu đốt. Vị ấy sẽ mất tinh thần và không hãnh diện với việc xuất gia của mình. Đó không phải là một lối sống của một vị đệ tử Phật, người phải can đảm trong việc tránh xa ác pháp và bước theo dấu chân của Đức Bổn Sư và luôn luôn tin vào chính mình và Giáo Pháp. Cũng như Đức Phật, các vị Thánh đệ tử của Ngài cũng là bậc thiện thệ, từ bi vô lượng và Ngài gieo hạt giống từ bi ở mọi nơi Ngài tới và lưu ngụ. Lúc nào cũng thấm đượm hương vị của Giáo Pháp và được ánh sáng của niệm và tuệ soi đường dẫn lối. Không bao giờ Ngài bị si mê dồn vào ngõ cụt. Như vậy mới thực sự là đệ tử của đấng Như Lai. Mỗi hành giả phải ghi nhớ nằm lòng điểm này.

^^^

122. Thời gian biểu hàng ngày - Năng lực ý chí 


Sau giờ giáo huấn, vị đệ tử nào còn hoài nghi hay thắc mắc gì liên quan đến tiến trình trau dồi tâm có thể gặp riêng Ngài để tham vấn nếu Ngài không bận việc gì khác.

Sinh hoạt thường xuyên hàng ngày mà Ngài vẫn giữ, bất kể ở đâu là:

• thiền tọa và sau đó thiền hành
• đi trì bình và sau đó độ thực
• thiền hành đến giờ ngọ
• nếu cần thì nghỉ trưa
• thiền tọa và thiền hành đến khoảng 4h chiều
• quét dọn khu vực tịnh thất của Ngài rồi tắm rửa
• thiền hành vài giờ
• tụng kinh vài giờ
• thiền tọa vài giờ
• ngủ, thông thường tối đa 4 tiếng.

Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt Ngài ngồi thiền liên tục suốt đêm không ngủ. Khi còn trẻ, hạnh tinh tấn của Ngài thật nghiêm khắc và cương quyết, lúc bấy giờ khó ai có thể sánh bằng. Đến khi tuổi già sức yếu, đức hạnh chuyên cần của Ngài có phần thư giãn. Nhưng luôn luôn có dấu hiệu của năng lực ý chí bất khuất mà tất cả các vị đệ tử đều trông thấy. Điều này ngược lại với đại đa số mà sức mạnh của ý chí thường suy giảm theo sức khỏe của thân.

Đó là đường lối thực hành của Người mà hàng Phật tử có thể nhìn lên như khuôn vàng thước ngọc. Kể cả khi đã hoàn toàn chiến thắng trong vùng rừng núi của Chiengmai, Ngài vẫn gồng gánh trách nhiệm nặng nhọc phục vụ cho người khác một cách vị tha cho đến khi thân tan rã lần cuối. Là chúng sanh trong cảnh người mỗi chúng ta đều có khả năng thành tựu như vậy, nhưng trong hiện tại hình như không có mấy ai sẽ theo chân Ngài đến cùng. Đó là do mức độ chín muồi của mỗi cá nhân được bốn yếu tố nâng đỡ nhằm hướng đến thành công: ưa thích hay ưu tiên chọn lựa, tận lực chuyên cần, nhiệt tâm quyết chí và khả năng quán chiếu, năng lực của tất cả bốn yếu tố ấy phối hợp lại vẫn không đủ để tạo kết quả mong muốn. Với những nhân khác biệt rất xa, quả chắc chắn cũng khác biệt. Điều này dĩ nhiên là đúng với cả thiện pháp lẫn bất thiện pháp. Đó là chân lý không thể chối cãi và đúng trong mọi trường hợp, mọi khía cạnh, thiện và ác, hạnh phúc và đau khổ.

Cuộc đời của Ngài Acharn quả thực đáng ngưỡng mộ, từ đầu đến cuối. Ngay khi còn sống, danh tiếng vang lừng của Ngài đã bay xa và lan rộng, có điều đáng tiếc là có nhiều Phật tử không thể tiếp cận Ngài. Một phần vì Ngài thường sống ẩn dật trong rừng sâu, ít khi lưu ngụ nơi thị thành, phần khác (có lẽ quan trọng hơn) vì mặc dù rất ngưỡng mộ và quý trọng Ngài, nhiều người còn ngại ngùng, lo sợ. Vài người sợ quá cực nhọc vì họ phải ngồi xe bò hay đi bộ xuyên qua rừng nhiều ngày mới đến được chỗ của Ngài. Những người khác chán nản vì phải trải qua cuộc thử thách gay go với lối sống và pháp hành mà họ phải chịu đựng dưới sự huấn luyện của Ngài: mỗi ngày chỉ có một buổi ăn sơ sài, sống trong khu rừng có nhiều bệnh sốt rét, nhiều thú dữ... Cũng có người sợ bị quở trách rầy la và cách đối xử có vẻ thô bạo. Đó là những trở ngại mà nhiều người tự dựng lên cho mình để rồi lỡ mất cơ hội quý báu, dù họ sống cùng thời và hết lòng mong mỏi muốn gặp Ngài.

Hiện có một số đông những vị sống cùng thời và những vị trong những thế hệ sau đã nhận thức rằng pháp vô thời gian như thế nào nhờ đã được thời gian thử nghiệm. Pháp lúc nào cũng có khả năng tạo ra Đạo và Quả cho những ai đủ can đảm để bước theo dấu chân của Đức Phật và các Bậc Thánh đệ tử của Ngài. Từ thời Đức Phật suốt đến hiện nay có vô số những vị đã chứng đắc như vậy. Pháp cũng giống như đập giữ nước từ đó tuôn chảy vô tận mật ngọt, trạng thái bất diệt của Niết bàn, tới những ai quan tâm và dám đi Con Đường đó. Rất nhiều người hiện giờ hối tiếc vì đã lỡ mất cơ hội ngàn năm có một của đời mình.

Ngài Acharn viên tịch vào ngày 10 tháng 11 năm 2492 PL (1949 DL), là một trong những vị Thánh Đệ Tử trong thời hiện tại. Chuyện về sự viên tịch của Ngài sẽ được trình bày sau. Tuy nhiên, sự ra đi ấy nhắc nhở chúng ta về hiện tượng không thể tránh của thân mà mọi người đều phải trải qua: tan sau khi hợp, hư hoại sau khi sanh. Những gì còn lại sau khi thân hư hoại và tan rã, dù của Đức Phật hay Ngài Acharn, là Trí Tuệ, Lòng Từ Bi, Sự Thanh Tịnh.

Giờ đây là phần của hành giả quyết định vận dụng bao nhiêu năng lực tinh tấn để trồng sâu những hạnh như vậy vào tâm mình trong khi còn ở trong vị trí có thể làm được. Xin có một lời cảnh giác chư vị hành giả - ăn năn hối tiếc vào lúc lâm chung không ích lợi gì.

^^^

123. Nghĩa địa trong tâm 


Ngài Acharn ban truyền cho người dân thành phố Nakhorn Rājia Sīmā một thời Pháp khác mà cho đến nay vẫn khắc sâu trong lòng người viết và xin tóm lược nơi đây để cho người đọc cũng có được ấn tượng như vậy.

Người Phật tử không nên quên rằng lúc nào mình cũng mang theo một nghĩa địa (xác chết) trong mình. Kiến thức và cách ứng xử của mình không nên làm lu mờ quan kiến về sự thật lớn lao này. Không có câu chuyện kể lại ở đâu hay lúc nào rằng chính tự mình trở thành một nghĩa địa, dù trong khi đang sống trong một đô thị lớn (chứ không phải giữa rừng sâu hoang vắng), hay sống giữa thân bằng quyến thuộc (chứ không phải cuộc sống ẩn dật đơn độc). Dù vị ấy nghĩ gì, nói gì hay làm gì luôn phải dựa trên sự thật lớn lao ấy, nếu không vị ấy sẽ ăn năn hối tiếc và ước rằng mình đã không làm vậy. Nghiệp riêng của một người vốn không tách rời khỏi hình ảnh về nghĩa địa bên trong này sẽ giúp miễn dịch được với năng lực của ô nhiễm. Không có năng lực nào cao siêu hơn năng lực của nghiệp (vượt được qua bên kia nấm mồ). Giả vờ quên năng lực của nghiệp hay khoe khoang rằng mình cao siêu hơn Đức Phật cũng vô ích. Người như vậy chắc chắn sẽ bị sự giả vờ hay giả thiết ngu dốt của mình ép vào đường cùng.

^^^

124. Cây Bồ Đề trong tâm 


Không ngoa khi nói rằng nhờ tháo vát trong phương pháp dạy dỗ và rèn luyện, Ngài Acharn đã thành công trong việc trồng được cây Bồ Đề (Cây Giác ngộ) trong tâm của một số các vị đệ tử của mình. Trồng cây Bồ Đề trong tâm khó khăn và khổ nhọc hơn trồng cây Bồ Đề thật rất nhiều. Một số các vị đệ tử ấy đã được nhắc ở phần trước là: Phra Acharn Singh, Phra Acharn Mahā Pin, ở thị trấn Ubol Rajathani; Phra Acharn Thet, quận Tha Boh, thị trấn Nong Khai; Phra Acharn Fan ở Sakol Nakhorn; Phra Acharn Khao ở Wat Tham Klong Phaner, Udorn Thani. Còn có những vị sau đây chưa được đề cập đến: Phra Acharn Phrom ở Bahn Dong Yen Nong Harn trong thị trấn Udorn Thani mới viên tịch gần đây; Phra Acharn Lee ở Wah Asokārām trong thị trấn Samud Prakarn (cũng đã viên tịch); Phra Acharn Chob và Phra Acharn Lui ở thị trấn Loey; Phra Acharn Orn ở Nong Bua Bahn; Phra Acharn Sim và Phra Acharn Tue ở Chiengmai; Phra Acharn Kongma ở Sakol Nakhorn (đã viên tịch).

Lẽ dĩ nhiên còn có những vị khác nữa mà người viết hiện thời không thể nhớ hết. Mỗi vị đệ tử được kể trên đều có những đặc tính riêng biệt nổi bật nhưng tất cả đều đáng được kính nể, quí trọng và lễ bái tôn sùng. Vài vị danh tiếng vang lừng và có đông đảo đệ tử, cũng có những vị khác thích sống ẩn dật đơn độc. Ngài Acharn còn có nhiều đệ tử khác đã trở thành “triệu phú” trong Giáo Pháp nhưng ít được nhắc đến vì các Ngài chỉ thích sống đơn độc và ẩn dật.

Do vậy, Ngài Acharn được công nhận là đã thành công trong việc trồng được cây Bồ Đề trong tâm nhiều vị tỳ khưu hơn là các vị khác trong vùng Tây Bắc.

Từ “bodhi” khi áp dụng cho Đức Phật có nghĩa là Giác Ngộ, nhưng khi dùng để đề cập đến các vị đệ tử phải được hiểu có nghĩa chứng đắc. Giúp làm cho tâm người khác phát triển đến mức chứng đắc cũng giống như trồng cây Bồ Đề trong tâm người ấy. Sự khác biệt là Ngài Acharn cần phải cố gắng khổ nhọc hơn thì tâm của các vị trong hàng đệ tử mới được rèn luyện, trau dồi và vững chắc tiến bộ hướng đến mục tiêu cuối cùng của Chứng Đắc.

Tâm của người thế gian quả thật vô địch trong việc nghĩ ra mọi lý do chứng minh rằng mình là đúng. Trồng cây Bồ Đề trong tâm là nhiệm vụ khó nhọc của vị Acharn, đòi hỏi phải liên tục cố gắng chăm nom nuôi dưỡng cho đến mức trưởng thành. Ngài phải vượt được ra ngoài năng lực của ô nhiễm thì mới tạo được ấn tượng và làm các đệ tử hoan hỷ, và rồi khép họ vào kỉ cương, chuyên cần tu học. Bằng cách ấy tâm họ sẽ pha lẫn với Giáo Pháp và sẽ kiên cố vững chắc trong Giáo Pháp một cách có hệ thống. Nếu vị Acharn và các đệ tử đều bị ô nhiễm thống trị như nhau thì còn hy vọng nào cho việc người này kéo được người kia đến bờ an toàn? Như vậy điều khó khăn nhất trên thế gian có lẽ là trồng cây Bồ Đề Giác Ngộ vào trong tâm của vị tỳ khưu bình thường, rồi từ đó dần dần dẫn dắt vào hàng nhập lưu, nhất lai, bất lai và A La Hán, tất cả những bậc xứng đáng được quí trọng, tôn sùng và lễ bái.

Lắm lúc một cây Bồ Đề con vừa được trồng xuống không bao lâu thì bị sâu bọ hay côn trùng ăn cụt, hay các yếu tố môi trường phá hoại, chỉ một số ít cây có thể sống sót trong môi trường khắc nghiệt để lớn đến mức có thể phụ thuộc vào sức mạnh của chính mình. Ảnh hưởng tai hại của sâu bọ và côn trùng thật khó nhìn thấy, và những yếu tố phá hoại thật là ghê gớm, đó là lý do tại sao rất hiếm khi có được một cây Bồ Đề của Chứng đắc đủ lớn.

Chúng ta trồng cây để thâu gặt bông trái, và chỉ sau vài năm sẽ được thu hoạch kết quả mong đợi, nhưng khi trồng cây Bồ Đề Chứng đắc thì cần kiên nhẫn và thời gian, nhiều khi không thể so sánh được, vì cây trồng trong tâm người phàm tục có cái kỳ quái của nó - kể cả khi không có sâu bọ và côn trùng hay những yếu tố phá hoại, nhưng thật mỉa mai là nó thường chịu khổ mời chúng đến để đầu độc và tàn phá chính nó. Ai còn hoài nghi chân lý này hãy “đến và thấy” bản chất tàn ác của tâm bằng việc xuất gia và tuân thủ Vinaya (giới luật tu hành). Có nhiều vị, mặc dù đã cạo đầu (và đắp y cà sa), nhưng vẫn không thể không ôm ấp dưỡng nuôi những suy nghĩ của người cư sỹ tại gia. Nhiều lúc còn thèm khát những thích thú của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, quên rằng những loại tham muốn ấy rất nguy hại và có rất nhiều năng lực phá hủy cội Bồ Đề Chứng đắc của chính mình, nó sẽ héo đi và chết vì thiếu chất dinh dưỡng và liên tục bị đầu độc.

Cây Bồ Đề của vị tỳ khưu phải có thể đứng vững, cội rễ phải ăn sâu vào lòng đất, làm nó có thể đứng vững trong gió. Những ai đã có chút kinh nghiệm trong vấn đề này sẽ hiểu rõ việc chăm cho một cây Bồ Đề con lớn lên và tránh cho nó khỏi sâu bọ hay côn trùng phá hoại, và cũng hiểu sức mỉa mai của tâm, vì nó có khuynh hướng tự đầu độc mình. Do vậy, vị nào đã hoàn thành việc gìn giữ cội Bồ Đề của mình cho đến lúc trưởng thành đầy đủ thật đáng khâm phục và tôn kính sâu sắc. Trong thời hiện đại, chúng ta có Ngài Acharn nổi tiếng nhất trong số những người như vậy vì Ngài đã, bằng việc tự tu luyện cực kỳ nghiêm ngặt và cương quyết, phát triển tâm mình thành cội Bồ Đề lớn mạnh đầy đủ, ra hoa kết trái, cành lá sum suê che bóng mát cho chim chóc và loài người. Mặc dù Ngài đã viên tịch, khi chúng ta hồi nhớ và tưởng niệm cuộc đời của Ngài và những công đức phục vụ vị tha bất cầu lợi, giúp đỡ tất cả những ai có diễm phúc đến gần Ngài với lòng chân thật muốn thành đạt Giáo Pháp, những ai ngưỡng mộ và kính trọng Ngài sẽ cảm nhận được sự thúc giục nên hướng đến pháp hành của Phật Giáo.

^^^

125. Đi đến thị trấn Sakol Nakhorn - Những bức ảnh của Ngài 


Sau khi rời Chiengmai, Ngài Acharn nhập hạ hai năm tại thị trấn Udorn Thani. Rồi từ đó được bà Khun Mae Noom Juvānon, đệ tử của Ngài từ ngày trước, và một nhóm thiện tín cư ngụ tại đó cung thỉnh đến thị trấn Sakol Nakhorn. Ngài Acharn chấp nhận, và họ rất vui mừng sắp xếp xe đến cung thỉnh Ngài về vào cuối năm 2484 PL (1941 DL).

Tại Sakol Nakhonrn, Ngài lưu ngụ tại Wat Suddhāvas và nơi đây thường xuyên có nhiều vị thiện tín, tỳ khưu và sāmaṇera đến viếng để nghe Ngài thuyết giảng. Chính tại nơi đây Ngài được cung thỉnh chụp bức ảnh để lưu niệm cho hậu thế và những người không được cơ hội gặp Ngài. Tại hai nơi khác Ngài cũng được cung thỉnh như vậy với lý do tương tự là thị trấn Nakhonrn Rāja Simā và làng Farng Dang trong quận That Phanom của thị trấn Nakhorn Phanom, nơi Ngài lưu ngụ sau khi đi tham dự lễ hỏa táng vị thiền sư cũ của mình, Ngài Phra Acharn Sao. Nhờ những bức ảnh chụp vào những cơ hội khác nhau này mà chúng ta có thể biết Ngài trông thế nào. Tuy nhiên, trước khi xin Ngài cho phép chụp hình các nhiếp ảnh gia cũng sợ sệt và lúng túng. Nhiều lần, và trong nhiều phút luýnh quýnh, các nhiếp ảnh gia đã thay đổi thế ngồi của Ngài, lo lắng đi tới đi lui từ chỗ Ngài đến máy ảnh để ngắm, mồ hôi dầm dề. Không phải lúc nào Ngài cũng cho phép thay đổi như vậy và nhiếp ảnh gia có thể bị quở rầy, khiến họ càng lo sợ và luýnh quýnh.

^^^

126. Võ sỹ trứ danh nhưng không biết chuyện trò – Chánh tinh tấn 


Trước tiên, Ngài lưu ngụ một ít lâu tại Wat Suddhāvas (bên trong khu thị trấn đông đảo dân cư), rồi sau đó rời nơi ấy để vào ẩn dật trong khu rừng hoang vu của làng Namone, cách xa xóm làng. Những vị tỳ khưu và sāmaṇera dưới sự hướng dẫn tu tập của Ngài ở đây tất cả đều nhiệt thành hiến thân cho Giáo Pháp với mục tiêu duy nhất là Chứng đắc. Nói cách khác các Ngài là “võ sỹ trứ danh nhưng không biết chuyện trò”, chú tâm vào tinh tấn chứ không nói chuyện.

Mỗi một vị tỳ khưu và sāmaṇera đệ tử của Ngài Acharn đều tận lực hoặc trong cái thất nhỏ bé sơ sài của mình hoặc trên đường kinh hành. Vào khoảng bốn giờ chiều mới thấy các Ngài ra khỏi thất để quét chùa hay quét sân trong khu vực, sau đó gánh nước chứa đầy lu để uống, tắm rửa, hoặc để dùng thường ngày. Lúc nào cũng tự kiếm soát, với niệm và tuệ, trong mỗi khoảnh khắc, không ngừng sống trong hiện tại bất luận khi làm gì. Họ không bao giờ trò chuyện nhảm nhí, vô ích. Sau khi làm xong việc chung, đâu đó là một vùng đất sạch sẽ giữa khu rừng, mỗi vị rút trở về thất của mình để tiếp tục chuyên cần. Không bao giờ các Ngài tiêu tốn thời gian bằng chuyện trò vô ích.

Trong khu ở mỗi vị, thấy các Ngài luôn bận ngồi thiền hoặc đi kinh hành. Chỉ có những giờ đặc biệt trong chương trình như giờ thuyết giảng vào buổi chiều hay giờ độ thực buổi sáng mới thấy các vị đi chung vào những nơi dành sẵn trong trai đường. Các Ngài không được phép rời khỏi niệm-và–tuệ dù trong khi đi trì bình hay khi ngồi chung lại độ thực, không bao giờ nhìn bên này bên kia hoặc chuyện phiếm với nhau.

Trước khi ăn, các Ngài dừng lại suy niệm về bản chất của vật thực trộn chung trong bát và mục đích của việc ăn, cố gắng khắc phục lòng tham hay tâm si. Trong khi ăn luôn luôn tự kiềm chế. Tuyệt đối không nhìn ngó vô ích hoặc tán phét. Sau khi ăn xong phải quét và lau sạch sẽ chỗ ngồi, rửa bình bát và phơi một lúc ngoài nắng rồi cất vào chỗ của nó. Xong rồi trở về nơi ở của mình tiếp tục chuyên cần, mỗi vị theo cách riêng của mình.

Không ai lo lắng về thời gian dành cho chuyên cần, dù là buổi sáng, buổi chiều hay ban đêm. Mục đích là luôn luôn giữ tâm trong đoạn kinh đã chọn hay trong đề mục hành thiền hoặc trong hoạt động quán chiếu bằng cách lặp đi lặp lại lời dạy của trí tuệ. Làm như vậy để ít nhất tâm được giữ vững an toàn ở mức độ của nó, hay tốt hơn nữa là dần dần tiến đến Chứng đắc cao hơn. Vào những lúc tinh tấn, yếu tố thiết yếu cần phải có là niệm, và phải sử dụng tuệ khi cần quán chiếu. Như vậy, tinh tấn dựa trên nền tảng căn bản là niệm, nếu không có niệm không thể gọi là tinh tấn một cách đúng đắn. Thí dụ như khi đi kinh hành hoặc ngồi thiền mà không có sự kiểm soát của niệm thì cũng như “người máy” và không thể được gọi là Chánh Tinh Tấn như là một yếu tố của Bát Chánh Đạo một cách đúng đắn. Do đó giáo huấn của Ngài Acharn luôn luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của niệm.

Niệm phải luôn luôn được phát triển để kiểm soát mỗi khoảnh khắc và mỗi hành động chuyên cần, cho đến khi cuối cùng trở thành mahāsati (đại niệm), và đại niệm đưa đến mahāpaññā (đại tuệ). Nên ghi nhận rằng trong giai đoạn còn sơ cơ, khi cần giữ tâm thanh bình vắng lặng thì niệm là yếu tố không thể thiếu. Về sau, phải có tuệ, như yếu tố bổ sung cho đến khi thành tựu mục tiêu cùng tột.

Phương pháp thực hành của Ngài Acharn rất táo bạo, nghiêm khắc và cương quyết, và Ngài dạy chư vị đệ tử phải thực hành giống như vậy. Vị nào thiếu nhiệt thành, kém tinh tấn và không đủ quyết tâm ắt không thể chịu nổi lối tu tập dũng mãnh và can đảm này.

Cứ sáu hay bảy ngày có cuộc một họp để Ngài thuyết giảng Giáo Pháp. Ngoài thời gian ấy chư vị tỳ khưu và sāmaṇera có thể tận lực hành đạo trong thất của mình, nhưng nếu ai gặp trở ngại hoặc khó khăn nào thì có thể đến với Ngài bất kỳ lúc nào để tham vấn. Bầu không khí với sự hiện diện của Ngài thấm nhuần Giáo Pháp một cách phi thường. Đạo, Quả, và Niết Bàn thấy như nằm trong tầm với của mỗi người. Các vị ấy trầm mình trong hơi ấm của những tia sáng tinh thần ban rải năng lực bổ dưỡng bao trùm những ai chịu khép mình vào hệ thống tu tập của Ngài. Như vậy, mỗi đệ tử là một gương lành cho người khác trong đức hạnh chuyên cần nhắm đến mục tiêu chung. Trong hoàn cảnh như vậy tất cả mọi người đều nhiệt thành, tinh tấn như nhau, bất kể ngày đêm.

Vào những đêm sáng trăng, ta có thể thấy các Ngài tới lui thiền hành trên đường kinh hành bên cạnh thất của mình. Vào đêm tối trời thì có những ngọn đèn lồng lập lòe rọi đường. Chính Ngài Acharn lúc nào cũng nêu gương sáng trên phương diện thực hành này.

Đêm nào cũng vậy, Ngài Acharn đọc kinh trong nhiều giờ. Trong những bài mà Ngài thường đọc tụng có những bài dài như kinh Dhammacakkappavattana Sutta và bài Mahāsamaya Sutta. Đôi khi Ngài cũng dịch những bài kinh ấy cho chư vị đệ tử nghe, nhưng chú trọng nhiều về phương diện thực hành hơn là ý nghĩa theo từng từ. Như vậy làm cho bài kinh dễ lãnh hội hơn và tạo nhiều hình ảnh sống động in sâu vào tâm người nghe. Nhiều người không thể không ngạc nhiên với khả năng và năng lực dịch thuật của Ngài vì biết rằng Ngài không học nhiều ở trường. Ngài có thể dịch những đoạn kinh Pāli tốt hơn những vị học giả đã từng theo học cấp cao nhất. Ngài có thể dịch ngay lập tức bất kỳ đoạn kinh nào dẫn giải từ Kinh Điển để làm rõ lời dạy của mình. Ngoài tốc độ dịch nhanh chóng, giọng nói cho thấy sự bạo dạn và lòng tự tin không lay chuyển vì chính mình đã trực kiến ý nghĩa của từng từ. Thí dụ như đoạn vāta rukkhā na pabbato được dịch một cách sống động là “gió có thể thổi ngã cội cây, làm gãy ra những mảnh nhỏ, nhưng gió đó không thể làm rung động hòn núi đá.” Có thể là cả đoạn kinh và lời dịch hiện lên từ bên trong cùng một lúc nhờ trí tuệ xuyên thấu chứ không phải chỉ là sản phẩm của trí nhớ dồn đầy kiến thức sách vở từ bên ngoài.

^^^

127. Dạy những gì đã chứng nghiệm chứ không phải phỏng đoán 


Lưu ngụ tại làng Namone một thời gian, Ngài Acharn rời tới làng Bahn Koke, cách xa khoảng hai cây số. Nơi đây cách xóm làng gần nhất khoảng một cây số. Tại hai nơi chỉ có một số nhỏ đệ tử cùng ở với Ngài, khoảng mười, mười một người. Đây là số lượng vừa đủ cho hai nơi này.

Chính ở tại làng Bahn Koke mà người viết được chấp nhận vào sống dưới sự hướng dẫn và rèn luyện của Ngài. Như vậy, những gì xảy diễn từ thời điểm này trở đi và được tường thuật sau đây là chính người viết đã chứng kiến. Tất cả những diễn biến trước lúc đó người viết phải góp nhặt từ những vị đệ tử khác ở nhiều nơi khác nhau, đôi khi bằng cách ghi chép và những lúc khác là thu âm. Với lối gom nhặt thế này, người viết phải mất nhiều năm sắp xếp theo thứ tự thời gian, nhưng vẫn không thể nói là hoàn hảo. Tuy nhiên, vì những đoạn tường thuật sau đây là kinh nghiệm trực tiếp của người viết, nó phản ảnh trung thực quan điểm cá nhân và người viết xin nhận lãnh trọn trách nhiệm.

Ngài Acharn lưu ngụ an lành và hạnh phúc tại làng Bahn Koke trong thời gian nhập Hạ. Mỗi tuần, khoảng sáu hoặc bảy ngày, Ngài thuyết giảng giáo lý một lần, mỗi lần tối thiểu hai giờ, đôi khi đến ba hoặc bốn giờ, nhưng người nghe say mê lắng nghe giáo huấn và tự hòa mình thấm nhuần trong Giáo Pháp, không thấy mệt mỏi hay người tê cứng. Chính Ngài cũng hoan hỷ truyền dạy giáo huấn cho đệ tử. Mỗi lần Ngài đi vào chi tiết và giảng sâu Giáo Pháp mà chính mình đã kinh nghiệm và chứng ngộ, người nghe vô cùng thích thú, không còn chút hoài nghi nào về sự giác ngộ của Ngài, càng thêm phấn khởi và quyết tâm cố gắng tiến đạt đến mức chứng ngộ như vậy. Hoài nghi, nếu có, chỉ là hoài nghi về năng lực của chính họ - họ có thể phát triển mình được đến đâu khi theo bước chân Ngài?

Trong khi nghe thuyết giảng, không thể không gợi nhớ diễn biến xảy ra trước đây hai mươi sáu thế kỷ khi chính Đức Phật thuyết giảng cho những vị tỳ khưu đệ tử. Rõ ràng là Ngài Acharn đã cho họ những kho tàng vô giá mà chính Ngài đã thành tựu: Đạo, Quả và Niết Bàn. Không gì ít hơn và không gì khác hơn, và đó là lý do vì sao tâm của những người nghe lời dạy của của Đức Phật thành công phát triển tốt đẹp như nhau từ ngày Ngài chuyển Pháp Luân đầu tiên cho đến lúc nhập Đại Niết Bàn. Giờ đây nếu còn Đức Phật, đấng Tôn Sư đã Giác Ngộ trạng thái Tuyệt Đối Thanh Tịnh của Giáo Pháp và truyền giảng Giáo Pháp đó với tất cả sự vi diệu của nó (Đạo, Quả và Niết Bàn), thì chắc chắn người nghe cũng có thể thành đạt khả năng chứng ngộ Đạo, Quả và Niết Bàn. Cũng như vậy, Ngài Acharn ban dạy Giáo Pháp mà đối với Ngài luôn luôn là Tuyệt Đối Hiện Hữu, như vậy cho thấy sự chứng ngộ và mức độ giác ngộ của Ngài không có lấy một mảy may phỏng đoán làm người ta hoài nghi hay do dự thay vì thấy trí tuệ thâm sâu. Do vậy, loại Giáo Pháp này lúc nào cũng làm phấn khởi và soi sáng người nghe.

Có những đêm không có họp để nghe giáo huấn, vào khoảng tám giờ tối, sau khi rời đường kinh hành, người ta nghe được tiếng Ngài tụng những đoạn Kinh từ trong tịnh thất của Ngài. Ngài tụng kinh khá lâu rồi bắt đầu thiền tọa cho đến khi ngủ. Trong những đêm có họp thì Ngài đọc kinh sau buổi họp theo cách như mọi ngày và đi nghỉ vào khoảng nửa đêm hay vào lúc một giờ khuya.

Một đêm, người viết bị tính tò mò của trẻ con xui khiến, muốn biết Ngài tụng những đoạn kinh nào mà dài như vậy, rón rén bước nhẹ đến gần để nghe thì bỗng nhiên Ngài ngưng tụng. Người viết rất ngạc nhiên nhẹ bước lui ra xa xa và dừng lại một lúc. Vài phút sau, Ngài Acharn bắt đầu đọc tụng trở lại bình thường. Một lần nữa, ý muốn tinh nghịch trở lại, người viết nhè nhẹ bước tới để chăm chú nghe rõ xem Ngài đọc đoạn kinh nào. Một lần nữa Ngài Acharn dừng đọc! Hình như Ngài biết có kẻ “trộm” hư gần đó. Thế là đủ và đến lúc tính tò mò của trẻ con phải dừng lại. Trọn cả đêm, người viết bị tra tấn vì thấy tội lỗi và đến sáng hôm sau không dám nhìn thẳng vào Ngài. Hình như Ngài Acharn cũng nhìn người viết với cái nhìn đáng sợ. Chắc chắn Ngài đã biết tính tò mò tinh nghịch đó cũng giống như Ngài biết tất cả những suy nghĩ khác của các đệ tử. Một lần nghe lén như vậy nữa sẽ mang “sấm sét” dội xuống đầu người viết.

^^^

128. Ngày đầu tiên gặp Ngài Acharn 


Người viết đến với Ngài Acharn lần đầu tiên vào một buổi chiều, lòng vừa sợ vừa lo. Tình cờ, tôi nằm xuống nghỉ rồi ngủ quên. Rồi Ngài đến chào mừng tôi.

“Tại sao con nằm dài tại đây như heo vậy?” Ngài nói. “Đây không phải là chuồng heo. Ở đây không có nuôi heo, cũng không phải chỗ giữ heo.”

Giọng Ngài to và mạnh và cử chỉ của Ngài làm tôi sợ điếng hồn. Tôi rất sợ Ngài và phải thu hết lòng dũng cảm mới dám đến chỗ Ngài vì lòng thật sự nhiệt thành muốn được Ngài hướng dẫn và dạy bảo tu tập. Giờ đây càng kinh sợ hãi hùng hơn với tràng la rầy về heo để đón chào. Vô cùng sợ hãi và run rẩy, tôi bước xuống, đi ra ngoài, nhìn quanh rồi sớm thở ra một hơi dài nhẹ nhõm vì không thấy ai nên tôi mới nhận ra đó chỉ là một giấc mơ. Về sau, khi tôi thuật lại chuyện này thì Ngài ôn tồn an ủi tôi chớ nên quá kinh sợ như vậy. Ngài nói rằng vì đây là lần đầu tiên tôi đến nên quá lo âu và sợ sệt, do đó nằm mộng, hãi hùng thấy Ngài la rầy khuyên dạy chớ nên sống như heo trong khi cố gắng sống cuộc đời của một tỳ khưu.

Hầu hết mọi người không nhận thức được làm người quý thế nào, thường hành động theo sự thúc giục của cảm giác hơn là sống theo lý trí, ít nghĩ đến tốt xấu hay đạo đức. Họ không xứng đáng được gọi là con người theo đúng ý nghĩa của từ đó. Do đó người Thái có thành ngữ nói rằng người như thế còn nhẹ cân hơn một baht (một đồng tiền Thái). Điều mà họ thiếu là cái có thể canh chừng và kiểm soát dục vọng của mình. Quả thật đáng tiếc rằng vì thiếu sót này mà con người hạ thấp địa vị của mình, xuống thấp hơn rất nhiều so với mức độ của mình và do vậy đánh mất giá trị tiềm tàng của con người. Cái còn lại chỉ là tấm thân vật chất đang thối rữa bên trong.

“Trong những trường hợp như của con, những người còn có thể nhắc nhở được, những hình ảnh như vậy mới xuất hiện”, Ngài nói. “Vì vậy con nên lấy làm mừng, và lấy đó làm một bài học quý giá. Mỗi khi cảm thấy lười biếng con phải nhớ đến bài học này và cố gắng chinh phục tật lười biếng. Sư thích hình ảnh này, rất hiếm hoi và có thể là cảnh báo quý báu, nhắc nhở ta khắc phục trạng thái lười biếng hay quá tự tin. Nó cũng là một động cơ đưa đến chuyên cần tinh tấn, là cái dẫn tới thanh bình an lạc. Nếu có thể sử dụng đúng mức hình ảnh này, con có thể thành tựu mục tiêu sớm hơn những người đã đến trước. Đó là một linh ảnh tốt, không phải xấu.

“Trong khi sống với một vị thầy, con không nên tự dày vò mình vì quá lo âu và sợ hãi. Những lời giáo huấn và nhắc nhở của thầy đều dựa trên Pháp hoặc lẽ phải. Không cần phải sợ thầy một cách vô lý. Điều phải sợ là hành động bất thiện và hậu quả đau khổ của nó chứ không phải sự la rầy của một vị thầy. Mắng hay phê bình người khác không có lý do không bao giờ là mục đích hay sự thích thú của thầy. Pháp hành của thầy căn cứ trên phương pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy. Phương pháp mà thầy dạy hàng đệ tử cũng dựa trên nền tảng ấy, không có gì khác. Đi lệch ra ngoài con đường đó là sai lầm và không đem lợi ích đến cho ai.

“Con được mời ở lại đây mà không cần sợ hãi, nhưng phải chuyên cần tinh tấn, tận dụng khả năng của mình một cách tốt nhất. Không nên nản chí sờn lòng vì bất kỳ cái gì. Giáo Pháp là của chung, thuộc về tất cả những ai tìm kiếm và chiến đấu vì Giáo Pháp. Đức Phật không bao giờ giữ độc quyền để Giáo Pháp cho riêng một nhóm người đặc biệt nào. Tất cả mọi người đều có quyền như nhau để sở hữu nó. Hãy luôn nhắc nhở mình đến bài học vô giá này để có thể lìa xa bản tính con heo. Đạo, Quả và Niết Bàn khi đó sẽ gần hơn, sớm hay muộn sẽ thành đạt trạng thái Chấm Dứt Đau Khổ. Thầy thành thật đánh giá cao ý tốt của con. Con đường của thầy là con đường gay go khổ nhọc, nhưng rồi sẽ tiến đạt đến nhiều trí tuệ và sức mạnh hơn. Thầy đã khép mình vào khuôn khổ của phương pháp này và giờ đây đặt hàng đệ tử vào cùng một phương pháp ấy.”

^^^

129. Cách dạy đầy tài ứng biến 


Ngài Acharn an ủi người viết giống như đứa trẻ để khuyến khích noi theo Đạo và để cản ngăn chớ nên làm bạn với heo. Điều này cho thấy tài ứng biến tuyệt vời của Ngài trong việc chữa trị riêng cho từng đệ tử. Về sau, trong một trường hợp khác, khi tôi đến gặp Ngài vì thất vọng khi pháp hành trồi sụt, Ngài hỏi tôi tiến bộ ra sao. Khi tôi trả lời là đã tiến bộ vững chắc thì Ngài dạy rằng như vậy là tốt, phải tinh tấn thêm lên để sớm thành tựu Chấm Dứt Đau Khổ. Nhưng khi tôi trả lời rằng pháp hành không tiến triển tốt đẹp và tâm có vẻ kém đi thì Ngài an ủi, khuyên tôi không nên lo sợ hay nản lòng với trạng thái trồi sụt của pháp hành, mà nên tăng cường đức hạnh chuyên cần tinh tấn.

“Tâm đã phát triển không thể đi đâu xa,” Ngài dạy. “Nó không thể thoát khỏi con và sẽ sớm trở về, cũng như con chó chạy theo chủ nó. Với hạnh tinh tấn được tăng cường dũng mãnh chắc chắn nó sẽ trở lại. Càng hoang dại chạy theo nó thì nó càng giận dữ bỏ chạy, lìa xa con. Hãy bình tĩnh và buông xả, chớ nên dính mắc. Hãy thường xuyên và đều đặn niệm bud-dho, tự nó sẽ trở lại.

“Không nên rời bỏ bud-dho, vì không có thức ăn nào ở đâu khác để bảo trì đời sống, tâm sẽ luôn luôn ở lại với con. Bud-dho sẽ đảm nhiệm phận sự cung ứng thức ăn để bảo trì tâm. Khi đã đủ no rồi thì tâm sẽ yên nghỉ. Lúc bấy giờ con có thể thư giãn trong khi nó ngủ và ngưng chạy loạn tìm lửa để thiêu đốt con. Con phải tiếp tục hành như thế cho đến khi tâm thích ở với con và không còn trốn đi chơi nữa. Khi đó tâm không suy thoái nữa bởi vì chất dinh dưỡng nuôi nó, tức bud-dho, hay bất kỳ đề mục hành thiền nào mà con áp dụng, đã đủ để duy trì nó. Hãy cố gắng hành theo lời thầy, con sẽ không còn đau khổ với tiến bộ trồi sụt của pháp hành nữa.”

^^^

130. Khuyên dạy, nhắc nhở và khuyến khích riêng cho từng người 


Sau thời gian nhập hạ, Ngài Acharn đi trở về làng Namone nơi mà Ngài đã an cư kiết hạ trong mùa trước. Sau đó Ngài chuyển sang làng Bahn Huey Khan nằm sâu trong rừng, rồi đến ngôi chùa bỏ trống trên đồi làng Nasinuan, lưu ngụ tại nơi này nhiều tháng. Ở đây, Ngài lâm bệnh sốt rét nhiều ngày cho đến khi, như thường lệ, tự chữa trị bằng ảnh hưởng chữa bệnh của Pháp.

Vào tháng Tư năm 2485 PL (1942 DL) Ngài đến làng Ubol Rājathāni để tham dự lễ hỏa táng vị thiền sư Phra Acharn Sao, trước kia là thầy của Ngài. Từ đó Ngài trở về làng Namone để nhập một Hạ nữa.

Trong năm này, Ngài Acharn càng cố gắng gia sức rèn luyện chư vị đệ tử, áp dụng mọi phương sách có thể để giúp họ tiến bộ -- giảng dạy, nhắc nhở, thúc dục, quở rầy, chỉ trích, tất cả nhằm tạo lợi ích cho bản thân họ. Trong thời gian an cư kiết hạ, cứ bốn đêm có một buổi họp. Kết quả là có nhiều vị đệ tử đã tiến bộ khả quan và đến trình pháp với Ngài, tường thuật những kinh nghiệm cá nhân mà người viết có cơ hội được nghe, mặc dù riêng pháp hành của mình lúc bẫy giờ không có gì đáng trình với Ngài như trường hợp các vị khác.

Cũng trong thời gian nhập hạ năm ấy, người viết có được một kinh nghiệm mà đến nay còn nhớ rõ ràng. Ngài Acharn bắt đầu xử lý tôi một cách nghiêm chỉnh và cứng rắn. Ngài không còn dễ dãi hay tha thứ như trước. Có lẽ sau thời gian kỷ luật “nhẹ nhàng”, Ngài cảm thấy rằng giờ đây tôi đáng được tiếp nhận cách đối xử cứng rắn. Ngài làm như thế vì lợi ích của chính tôi cũng như làm với nhiều vị khác vì lợi ích của họ. Tất cả những vị tỳ khưu đệ tử khác cũng rất nhiệt thành chuyên cần tinh tấn và đã trình với Ngài nhiều kinh nghiệm phi thường trước, trong và sau khi Ngài giảng Pháp. Họ đến gặp Ngài để tìm những lời khuyên dạy nhằm tự cải thiện hay sửa sai. Họ không bao giờ thất vọng vì Ngài luôn luôn cho họ cái họ hy vọng và cần đến, trong sự hoan hỷ của cả người hỏi và người nghe. Lời khuyên dạy, khuyến khích và nhắc nhở của Ngài luôn luôn có tính cá nhân, thích hợp với từng người. Do vậy, sự hoan hỷ và lòng phấn khởi của người nghe không chấm dứt mà họ luôn luôn mong muốn được nghe thêm, nghe thêm nữa, dù chỉ là để tự khích lệ họ.

Đôi khi, Ngài Acharn nhắc lại cho hàng đệ tử nghe kinh nghiệm của Ngài trong những kiếp quá khứ, vài lần khác Ngài thuật những giai đoạn cố gắng của Ngài lúc ban sơ trong kiếp này, kể cả những hiện tượng và trí tuệ phát sanh do hành thiền định và thiền quán , cuộc chiến đấu tinh thần trong vũng bùn giác quan và giả thuyết, rồi khoảnh khắc quan trọng khi tiến gần đến mức thành tựu và lìa hẳn đầm lầy mãi mãi. Đó là tuyệt đỉnh của câu chuyện, làm cho người nghe say mê và đồng thời buộc họ suy nghĩ lại về mình và làm họ tự hỏi bao giờ họ sẽ có thể làm như vậy. Đôi khi người nghe không khỏi chán nản nghĩ đến sự phát triển của mình, hay đúng ra là sự kém phát triển của mình, vào lúc bấy giờ. Dù sao cũng rút được những điểm tốt từ chuyện đó: như đem lại dũng khí, ý chí cương quyết mới mẻ, và thúc giục họ nên khẩn cấp tinh tấn để đến mục tiêu. Như vậy, những câu chuyện của Ngài lúc nào cũng bồi dưỡng, tăng cường nghị lực cho người nghe và giúp họ có đủ khả năng chịu đựng những nỗi khó nhọc trên con đường của họ.

^^^

131. Lợi ích vô biên nhờ ảnh hưởng của bậc trí tuệ và đức hạnh 


Điều rất cần thiết là nên thân cận với người trí tuệ và đức hạnh. Điều này rất hiển nhiên đối với tất cả những vị đệ tử đã từng tu tập dưới sự hướng dẫn và rèn luyện của Ngài Acharn một thời gian, và đã được trầm mình trong hào quang của lòng từ bi và trí tuệ của Ngài. Họ dần dần vào khuôn mẫu nhờ lời dạy và gương đức hạnh của Ngài và thay đổi tâm tính, trở nên giống như Ngài một cách vô thức. Sự biến đổi này dĩ nhiên không phải hoàn toàn trên mọi phương diện, nhưng chắc chắn rằng không nhiều thì ít, ai cũng cảm nhận được ảnh hưởng về mặt tinh thần của Ngài, tùy thuộc khả năng thấm nhuần của mỗi cá nhân. Tối thiểu ai cũng mang theo những dấu tích không thể lầm lẫn từ truyền thống tu tập, phương cách thực hành và hệ thống tư tưởng của Ngài. Khi thân cận người xấu ác cũng vậy, họ cũng có thể thay đổi bất kỳ ai thân cận với họ để trở nên giống họ.

Tuy nhiên, điều này chỉ đề cập đến nguồn gốc của sự xấu ác bên ngoài. Cũng có một nguồn tội lỗi khác, ít rõ ràng hơn, nhưng mạnh mẽ hơn. Nó tiềm ẩn nằm bên trong tính cách của mỗi người, kể cả những người được gọi là “có văn hóa” và nhiều vị tỳ khưu và sāmaṇera, những người tự xưng là những người theo dấu chân của đấng Như Lai. Nguồn bất thiện pháp này là ảo tưởng, không hay biết tiếng gọi thì thầm của tên “phù thủy”, thúc giục ta rơi vào con đường tội lỗi của nó. Có những lúc vị ấy hiểu biết rõ ràng rằng tiếng nói tội lỗi đang vang lên hồi trống tư tưởng bất thiện trong đầu họ, nhưng tự an ủi rằng ý nghĩ như vậy không có hại gì vì chưa diễn đạt thành lời nói hay hành động. Đó là lãng quên sự thật rằng sự xấu ác, bất luận phát sanh lúc nào hay ở nơi đâu vẫn là xấu ác. Nó bắt đầu tạo kết quả xấu ác khi vẫn còn ở trong tâm, dưới hình thức suy nghĩ.

Mục tiêu của giáo lý nhà Phật là tận diệt tất cả mọi bất thiện pháp trong tâm để nó không bao giờ chế ngự tâm bằng những ảnh hưởng xấu xa hiểm độc nữa. Điều này có thể thấy rõ nơi Đức Phật và chư vị A La Hán đệ tử, trong đó có Ngài Acharn Mun Bhūridatta, những người đã gột rửa tâm hoàn toàn trong sạch, tuyệt đối không còn chút ô nhiễm nào. Đó là niềm tin thành thật của người viết. Nếu có lời phê bình, chỉ trích về điểm này người viết hoàn toàn chịu trách nhiệm, không liên quan gì đến Ngài Acharn, người đã hoàn toàn đến nơi an lạc, tuyệt đối tự do thoát khỏi mọi trói buộc.

^^^

132. Khu rừng ẩn dật Nong Phue - Trung tâm của các vị tỳ khưu đầu đà 


Ngày Acharn nhập hạ ba mùa trong khu vực quanh làng Huey Khan, Nasinuan, và Bahn Koke, quận Tong Khobe, thị trấn Sakol Nakhorn. Có những thời gian thuyết giảng Giáo Pháp đều đặn cho người và cho chư thiên, nhưng chư thiên không đến thường xuyên như ở Chiengmai, có thể bởi vì nơi đây gần thành thị hơn nơi mà Ngài lưu ngụ tại Chiengmai. Chỉ có những ngày quan trọng như Māgha, Vesākha (Phật Đản), nhập Hạ, hay Pavārāna (mồng Một, Rằm, và Ba Mươi) chư vị mới đến gặp Ngài. Số tỳ khưu và sāmaṇera lưu ngụ với Ngài cũng không đông vì chỗ ở hạn chế. Tuy nhiên lúc nào cũng có nhiều người đến viếng thăm Ngài trong thời gian ngắn để nghe thuyết giảng Giáo Pháp rồi ra đi. Họ lắng nghe Ngài từ bi thuyết giảng và khuyên dạy những điều họ cần.

Những vị thiện tín ở làng Nong Phue Nanai cung thỉnh Ngài về ở với họ để “nâng cao tinh thần” (một lối diễn tả của người Thái). Ngài chấp nhận lời thỉnh cầu và họ nhanh chóng đến cung thỉnh Ngài về làng Nong Phue, tại phân bộ Nanai của quận Phannā Nikhom, thị trấn Sanol Nakhorn. Ngài rời làng Bahn Koke, đi bộ theo đoạn đường mòn quanh co và ngừng nghỉ ba hay bốn đêm trong rừng trước khi đến làng Nong Phue.

Sau khi đến làng Nong Phue vài hôm thì Ngài Acharn lâm bệnh sốt rét và lên cơn sốt từng cữ trong nhiều tháng. Vào thời bấy giờ bệnh sốt rét là bệnh mãn tính, làm cho người bệnh mất sức nhiều năm. Đôi khi có thể trong hàng tuần hoặc hàng tháng không thấy triệu chứng, nhưng rồi bỗng nhiên tái phát. Hậu quả tai hại nhất cho người lâm bệnh này là họ bắt buộc phải ở trong vị trí tiêu thụ mà không sản xuất. Có thể ăn uống và nghỉ ngơi, nhưng không có khả năng làm việc. Người bệnh cũng có chiều hướng ưa than phiền, và trong nhiều trường hợp, không cách nào làm vừa lòng và làm cho họ ngưng than phiền. Những người như vậy rõ ràng là một gánh nặng cho mọi người, và trong nhiều trường hợp, khi bệnh trở nên mãn tính thì nước da của bệnh nhân trở nên xanh xao và bụng phình lên, nhất là trẻ em. Những người sống ở thành thị hoặc ở nơi trống trải thường lâm bệnh này hơn là sanh trưởng trong vùng rừng núi. Những vị tỳ khưu dhūtaṅga trong khi đi đó đây bất định trong rừng thường rất dễ mắc bệnh này. Người viết cũng lâm bệnh sốt rét ngay trong thời gian đầu tiên nhập hạ tại đây cho đến mùa hè năm sau.

Nhưng không quản tất cả những điều này, thay vì sợ sệt hay chán nản, càng có nhiều vị tỳ khưu và sāmaṇera chịu khó vào tu trong rừng để tìm Ngài. Trong thời gian an cư kiết hạ, ở thiền viện có từ hai mươi đến ba mươi vị. Số đông hơn thế đến ở các làng gần đó, hai hoặc ba vị ở một nơi, năm hoặc sáu ở một nơi khác, và chín hoặc mười ở một nơi khác nữa. Trong những ngày Wan Phra (ngày giới) có khoảng hai mươi đến ba mươi vị tỳ khưu dự lễ Pāṭimokkha (Phát Lồ, mỗi tháng hai lần, ngày rằm và ba mươi, chư tăng tụ họp trong Chánh Điện để nghe đọc Giới Bổn), và có đông hơn khi những vị tỳ khưu ở các tự viện gần đó đến hành lễ chung. Ngoài thời gian nhập Hạ, khi có Ngài Acharn ở đó thì có đến năm mươi hay sau mươi vị, hay còn nhiều hơn nữa. Ban ngày, tất cả những vị tỳ khưu và sāmaṇera rút về nơi ẩn dật của mình bên ngoài khu chùa đề chuyên cần hành thiền.

Khu rừng xung quanh chiều rộng hàng mấy chục cây số, và chiều dài trải xa mênh mông không thể đo, một dãy núi chặn ngang ở tận xa, cuối tầm mắt có thể thấy. Phía Nam của quận Phannā Nikhom tất cả đều là rừng và núi xuống tới thị trấn Kālaisin. Quận Nong Phue, nơi mà Ngài Acharn lưu ngụ lúc bấy giờ, như vậy đã trở thành trung tâm của chư vị tỳ khưu dhūtaṅga mà mục tiêu duy nhất chỉ là phát triển tâm đến mức Giác Ngộ. Các vị sẵn sàng lặn lội đường xa xuyên qua nhiều khu rừng chỉ để gặp Ngài Acharn và lắng nghe Ngài thuyết giảng trong những ngày lễ Pāṭimokkha (Phát Lồ), hoặc nhiều trường hợp khác, nhờ những lời dạy của Ngài giải quyết thắc mắc và làm sáng tỏ hoài nghi.

Sau thời gian an cư kiết hạ, vào mùa khô, có nhiều nơi ẩn dật trong núi như động, hang, hoặc bóng mát dưới những cội cây. Xóm làng cách xa và chỉ bao gồm khoảng mười, hai mươi hoặc ba mươi nhà. Cũng có những xóm rải rác trong vùng, mỗi xóm chừng năm hay sáu ngôi nhà. Chính dân cư trong những làng ấy hộ trì và để bát hàng ngày các vị tỳ khưu dhūtaṅga.

^^^

133. Cuộc sống ẩn dật trong rừng 


Làng Nong Phue ở giữa một thung lũng, xung quanh chỉ là rừng và núi. Thung lũng khá rộng, có những khoảnh đất bằng thích hợp cho trồng trọt. Dãy núi có nhiều đỉnh cao và rừng rộng, tất cả là một vùng mênh mông để sống ẩn dật. Do đó, có một số lớn các tỳ khưu dhūtaṅga đến hành đạo quanh năm, mùa mưa cũng như mùa khô.

Trong thời gian Ngài Acharn lưu ngụ tại đó, thường xuyên có những vị tỳ khưu dhūtaṅga tới lui viếng thăm. Vài vị từ trên núi cao xuống để thọ lãnh giáo huấn và học hỏi cách giải quyết vấn đề họ có, những vị khác trở về núi sau khi mãn nguyện được Ngài chỉ dạy hay khích lệ. Có những vị đến từ các thị trấn quanh đó và những thị trấn trong vùng.

Vào mùa khô, có nhiều vị cư sỹ và tỳ khưu, thương gia và công chức, đông đảo kéo đến khu rừng ẩn dật để gặp và lắng nghe những lời dạy của Ngài. Tất cả đều phải đi bộ qua đường rừng, ngoại trừ những người lớn tuổi và phụ nữ không quen đi bộ đường xa thì phải ngồi xe bò (thời gian đi cũng gần bằng đi bộ).

Từ quận Nong Phue đến thiền viện có một con đường tắt khoảng hai mươi cây số. Nếu theo con đường dài hơn quanh co dưới chân nũi thì cũng khoảng hai mươi lăm cây số. Con đường thẳng tuy ngắn hơn nhưng khó đi và không có điểm nghỉ ngơi, còn trên con đường dài thì có xóm làng, tuy không mấy tiện nghi nhưng cũng có nơi nghỉ chân. Đường mà xe hơi có thể chạy được chỉ nối liền hai thị trấn, mà cũng hiếm xe chạy. Người nào lỡ một chuyến xe này thì thông thường phải đợi đến ngày hôm sau.

^^^

134. Đi bộ - một loại tinh tấn 


Tất cả những vị tỳ khưu dhūtaṅga đến viếng thăm Ngài Acharn đều đi bộ. Các Ngài xem lối đi bộ là một hình thức tinh tấn và là cơ hội tốt để thở không khí trong lành mát mẻ, tốt hơn ngồi chuyến xe đò chật chội nhiều.

Nhắm sẵn trong tâm nơi mà mình muốn đi, các Ngài lên đường, hướng về phía ấy, thong dong bước đi và không quan tâm tới việc chừng nào mình sẽ đến nơi. Khi trời sẩm tối thì dừng bước và nghỉ chân ở bất kỳ đâu. Sáng hôm sau, các Ngài lại bắt đầu đi nữa nếu gần đó không có xóm làng để trì bình khất thực. Các Ngài cũng thỏa mãn với bất kỳ vật thực nào người ta đặt vào bát mình, dù ngon hay dở, nhiều hay ít thế nào. Mục đích là đủ để bảo trì mạng sống của thân cho đến ngày mai nếu được (nếu không được thì cũng được). Các Ngài tiếp tục cuộc hành trình như vậy đến nơi mình chọn, thích hợp để sống ẩn dật, và thích hợp với đường lối thực hành của mình.

Nước là điều rất quan trọng không thể xem nhẹ, nguồn nước phải không quá xa. Tìm được nơi thích hợp, vị tỳ khưu dhūtaṅga bắt đầu chuyên cần tinh tấn tu tập, thiền hành và thiền tọa xen kẽ, ngày và đêm. Luôn luôn cố gắng trau dồi chánh niệm để canh phòng những cảm xúc không mong muốn. Trí tuệ hay việc quán chiếu cũng trợ giúp mỗi khi tiếp xúc với môi trường hay những hiện tượng xung quanh.

Tâm vững chắc đặt vào đề mục hành thiền phù hợp với khuynh hướng hay tính cách của vị tỳ khưu, lúc bấy giờ rút vào trạng thái an trụ nhất điểm. Khi xuất ra khỏi trạng thái nhất điểm này, tâm bắt đầu suy tư trở lại qua năng lực của trí tuệ (pañña). Đề mục hành thiền có hai loại: bên ngoài và bên trong. Đề mục bên ngoài là những đối tượng đến với hành giả qua năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân), còn đối tượng bên trong là bản chất và cơ năng của thân, và cũng là những gợn sóng của tâm, tất cả đều liên tục vận hành. Đó là biểu hiện vô thường, luôn khuấy động và không ngừng nghỉ.

Bản chất tự nhiên của thân và tâm được quán chiếu trên nền tảng vô thường đến khi đạt được mức độ buông xả tương ứng với trí tuệ không ngừng đào xới các rễ con và rễ chính của ô nhiễm. Đây là nhiệm vụ đầy thích thú và say mê khi việc quán chiếu liên tục hướng về bất kể hiện tượng nào phát sanh, từ bên ngoài hay bên trong. Tất cả đều có thể lãnh hội đầy đủ và tóm tắt ngắn gọn trong ba đặc tính: vô thường, bất toại nguyện và vô ngã.

Tuy nhiên cũng có những lúc hoài nghi phát sanh và ngăn chặn mọi tiến bộ. Vị tỳ khưu đến trình với Ngài Acharn những điểm hoài nghi và khó khăn của mình. Tiếp nhận giáo huấn và lời khuyên cần thiết, vị tỳ khưu trở về nơi trú ngụ ẩn dật của mình và tiếp tục chuyên cần. Vì vậy, thời gian đó có nhiều vi tỳ khưu dhūtaṅga tụ họp chung quanh Ngài.

Thông thường vị tỳ khưu sống đơn độc một mình hoặc đôi khi hai vị cùng ở chung một nơi ẩn dật trong rừng. Những nơi này cách xa nhau đôi khi sáu hay bảy cây số hoặc từ tám đến mười hai cây số, cũng có khi mười lăm, mười sáu, hai mươi hoặc ba mươi cây số xa cách nhau. Những vị ở xa phải ở lại qua đêm mỗi khi đến với Ngài Acharn xin giáo huấn, để rồi sáng sớm hôm sau có thể lên đường trở về nơi trú ngụ xa xôi của mình.

Những con đường rừng từ làng này đến làng kia không giống như loại nối liền hai thị trấn, mà chỉ là những con đường mòn do dân làng thường dùng để lui tới, quanh co sâu trong rừng, vòng quanh đồi núi, hoặc phải leo băng ngang xuyên qua núi. Ở nhiều nơi, đường chia ra làm nhiều nhánh, sẽ dẫn khách lữ hành lơ đễnh xa dần xóm làng đi càng sâu vào rừng. Dù đi đúng đường, đôi khi làng này cách xa làng kia hai mươi, ba mươi cây số. Khi đi đường xa một mình trong rừng như vậy phải hết sức thận trọng. Nếu không, người đi đường có thể bị lạc giữa rừng và chịu đói. May ra gặp một người thợ săn quanh quẩn trong vùng mới có thể đưa khách lạc đường đến một xóm làng kế cận an toàn.

Đó là những thử thách cho lòng kiên trì cương quyết và tâm nhiệt thành hướng đến lý tưởng của vị tỳ khưu dhūtaṅga. Khi ăn, khi ngủ, khi chuyên cần tu tập, khi đi đường xa, khi tìm đến một vị thiền sư đủ tài đức để chỉ bảo, khuyên dạy và giáo huấn – tất cả mọi việc đều khổ nhọc và phiền phức. Khi gặp được vị thầy tài đức như vậy thì vô cùng hoan hỷ, không khác nào trẻ con gặp cha mẹ. Các vị tỳ khưu đệ tử đặt trọn hy vọng Thành Tựu nơi Ngài và gắn chặt tất cả tình thương, niềm tin, lòng tôn kính và sùng bái Ngài. Nói cách khác, Ngài là trọng tâm của tất cả lòng nhiệt thành của họ. Họ sẵn sàng hiến trọn thân, tâm, cuộc sống, mọi thứ của họ.

Mặc dù cách xa về khoảng cách như vậy, luôn luôn vẫn có mối liên kết tinh thần chặt chẽ giữa họ với vị thiền sư. Do vậy, họ không quản đường xa, khó khăn và nguy hiểm, miễn là có thể được hưởng sự ấm áp của Ngài, của giáo huấn mà Ngài ban truyền, của những lời khuyên dạy và năng lực bảo vệ của Ngài. Vì mục đích duy nhất của họ là chứng ngộ Giáo Pháp, bao nhiêu khó khăn phiền phức trong sự ăn uống, ngủ nghỉ hay những vấn đề khác của đời sống không có gì đáng kể với họ. Có những lúc bị mưa ướt sũng cả đêm, suốt đêm run rẩy như cái lá trước gió vì lạnh. Nhưng tất cả khổ nhọc này và những điều kiện khác vô cùng phiền phức được đền bù xứng đáng nếu họ được tắm trong hào quang của một vị thiền sư tài đức mà họ hết lòng tôn sùng kính mộ. Nếu ta lắng nghe những thảo luận của họ thì cảm thấy hình như họ sống không khác gì thú rừng, không được bảo vệ và không được chăm sóc, đơn độc chịu đựng khổ nhọc giữa rừng sâu. Chỗ che mưa đỡ gió và nơi ngủ nghỉ của họ không hơn gì của loài thú, vì đó là những gì tốt nhất mà họ có thể tìm ra.

Họ áp dụng nhiều lối thực hành khác nhau nhằm tự khép mình vào khuôn khổ kỷ cương bao gồm không ngủ, ăn ít, và nhịn ăn trong một thời gian thích hợp cho mỗi vị, tùy sức chịu đựng của cơ thể, thiền hành hay thiền tọa suốt đêm, ngồi thiền ở nơi nguy hiểm như trước cửa hang có cọp, hoặc trên con đường mà cọp thường đi, hành thiền trong một nghĩa địa vừa có người thiêu xác hoặc chôn cất, hoặc nữa ngồi trên bờ vực thẳm. Mục đích của tất cả những việc ấy đều giống nhau, là rèn luyện tâm bất trị bằng cách bắt buộc nó phải đối diện với những gì nó sợ, và trong phần lớn các trường hợp, họ có thể thành công bằng những cách như vậy nếu nó thích hợp với tính cách của họ, chúng đáng được đối xử như vậy. Chính Ngài Acharn đã tự mình áp dụng cách này và vì vậy khuyên các vị đệ tử của Ngài cũng làm như vậy. Rồi các vị này đã thực hành và đệ tử của các vị ấy cũng thực hành theo kỷ luật này đến tận ngày nay.

^^^

135. Kết quả đền đáp lại mọi sự nhẫn nại và hy sinh 


Những phương pháp thực hành như vậy, lẽ dĩ nhiên, là đi ngược với thói quen của nhiều người. Nhưng đó là điều lường trước được và do vậy, không thể tránh trong một hệ thống tự cải thiện, tự mình đào tìm kho tàng vô giá tích trữ bên trong. Nhìn vào những kết quả có thể thu được dưới hình thức hạnh phúc và trạng thái châu toàn thì những khổ nhọc và đau khổ phải gánh chịu cũng xứng đáng với mọi sự nhẫn nại và hy sinh. Điều này đúng với đời sống thế tục cũng như trong phạm vi tôn giáo. Nhiệm vụ giữ gìn cho một người hay một vật tránh khỏi hư hại hay những hiểm họa, đòi hỏi ý chí cương quyết cũng như năng lực chịu đựng. Chỉ có người chết (hay một món đồ đã vứt bỏ) thì mới không cần phải chăm nom bảo trì và giữ gìn. Sức kiên nhẫn chịu đựng và lòng hy sinh tự quên mình của vị tỳ khưu dhūtaṅga, dũng cảm chịu đựng mọi khổ nhọc để trở nên cao thượng, quả thật đáng được đặc biệt tán dương.

^^^

136. Giáo Pháp không bao giờ không thích hợp, không thể thực hành, hay lỗi thời 


Ngày nào còn có người đi theo Giáo Pháp thì Phật Giáo còn được duy trì, và những kết quả của việc thực hành Giáo Pháp tự hiển lộ cho thế gian tương ứng với mức độ thực hành. Phật Giáo dựa trên sự thật mà Đức Phật đã chứng ngộ qua pháp hành của Ngài và đã công bố. Giáo Pháp được gìn giữ và bảo trì nhờ có chư vị đệ tử của Đức Phật, cũng xuyên qua sự thật ấy đã hội đủ nhân duyên và đã gặt được những thành quả ấy. Những sự thật của Phật Giáo có thể được tuyên ngôn khắp cùng trong Tam Giới mà không sợ bị phản đối và cho là sai. Giáo Pháp là sự thật theo chính bản chất của nó. Đức Phật là người đã chứng ngộ sự thật này nhờ nỗ lực của chính mình trước khi tuyên ngôn cho người khác. Nếu có sự thật nào chưa được ai khác chứng ngộ hay thành tựu thì đó là do lỗi lầm hay khiếm khuyết trong tâm của người ấy, vẫn còn bị mây mờ che lấp. Không bao giờ là lỗi lầm hay khiếm khuyết của Giáo Pháp Đức Phật. Chính vì do thiếu sót của vị đệ tử mà trong mắt của người khác, sự thật đó hình như không đúng sự thật và Giáo Pháp không thích hợp, không thể thực hành, và đã lỗi thời.

^^^

137. Chuẩn bị cho điều không thể tránh 


Giờ đây chúng ta hãy trở lại phương pháp tự kiềm chế của chư vị tỳ khưu dhūtaṅga một chút. Như đã giải thích ở phần trên, những phương pháp “mạnh” như ngồi thiền suốt đêm, bớt ăn hoặc nhịn ăn luôn trong một thời gian có thể chịu được, vào nghĩa địa hay hang động của cọp v.v… là để rèn luyện, thuần hóa cái tâm ngỗ nghịch bất trị, kéo nó trở về bên trong, thay vì để nó kinh sợ chạy loạn bên ngoài, để khẳng định và chứng minh cho nó thấy năng lực của nó, và để phát triển đức tính dũng cảm, trầm tĩnh và an lạc. Theo một ý nghĩa, đó là luyện tập hay chuẩn bị, dự phòng khi nó phải thật sự đương đầu với cảnh ngộ khẩn cấp, khi thân phải chịu những cơn đau nhức dữ dội hay khi tử thần đe dọa. Với sự chuẩn bị đầy đủ, tâm được thuần hóa và rèn luyện thuần thục có thể tự giữ vững, tách biệt khỏi những điều kiện của thân. Chỉ khi đã trải qua những kiểm nghiệm tương tự, năng lực của ý chí và trí tuệ mới phát triển tốt đẹp và những khả năng tiềm ẩn mới hiển lộ để được sử dụng đầy đủ. Khi áp dụng đúng cách, phù hợp với khuynh hướng của tính cách và khả năng chịu đựng của hành giả, lối thực hành cương quyết như thế sẽ đánh thức một cách công hiệu những đức tính và những năng lực dũng mãnh ngủ ngầm và trợ giúp hành giả buông xả, giữ tâm thản nhiên, thanh bình và an lạc trong mọi hoàn cảnh, dù đáng ghê sợ như thế nào. Thành quả thâu gặt là một người sợ ma không còn sợ ma nữa, người thường sợ cọp hay các loài thú dữ không còn sa lầy trong những cơn kinh sợ hãi hùng của chính mình nữa.

^^^

138. Kiềm chế vật thực 


Về phương diện vật thực, phương pháp tu tập “kiềm chế” này quả thật phức tạp và lâu dài. Vị hành giả đã biết rằng tâm mình rất ngỗ nghịch và bất trị trước vật thực, và mình luôn luôn bị hương vị của vật thực chế ngự và lôi kéo, sẽ giảm bớt số lượng vật thực mỗi ngày, hoặc đôi khi nhịn ăn luôn một hay hai ngày, tùy sức chịu đựng của thân. Phần đông thường bị cả lòng ham muốn vật thực vừa ý, và không thích vật thực không vừa ý khuất phục. Càng ăn được nhiều thức ăn nào mình thích càng tốt – người ta nghĩ như vậy. Người ta thỏa thích dưỡng nuôi cái thân mà không cần biết đến tâm. Vị tỳ khưu dhūtaṅga, với mục đích tập trung nỗ lực phát triển tâm, không thể làm như thế. Vị ấy cố gắng chinh phục lòng ham muốn đang áp chế mình, để cho nó biết ai là chủ.

Biết rằng tâm mình vẫn còn bất trị, không tuân theo ý mình về điểm này, vị ấy can đảm quyết tự khép mình vào một khuôn khổ kỷ cương mất cảm tình. Khi một thức ăn vừa miệng được dâng đến thì dừng lại, trước tiên quan sát trạng thái tâm. Nếu thấy phải làm nô lệ cho lòng ham muốn và thể hiện sự thích thú với món ăn một cách không thể kiềm chế được thì vị ấy từ chối thức ăn đó, chọn một món khác mà tâm không chấp nhận. Khi tâm nóng nảy chiến đấu để có thêm, vị ấy cho nó ít hơn. Khi tâm thèm khát hương vị của tất cả những thức ăn được dâng trước mặt, vị ấy tự mãn nguyện với cơm trắng, và không gì khác. Có những loại vật thực thích hợp về hương vị và tốt cho sức khỏe của bản thân, nhưng có thể không thích hợp với sức khỏe của tâm. Loại vật thực này cũng nên tránh. Chấp nhận ăn nó có thể làm cho thân trở nên cường tráng nhưng sẽ là một trở ngại cho việc phát triển thiền tập. Trong trường hợp đó, vấn đề phát triển thiền tập phải đặt lên hàng đầu. Đó là bước theo dấu chân của Ngài Acharn của mình, quét sạch thói quen cố gắng mãi chạy theo thức ăn vừa ý và cố ăn càng nhiều càng tốt.

Trên một phương diện khác của pháp hành này, vị tỳ khưu luyện tập đi ngủ và thức dậy đúng giờ, không bao giờ lợi dưỡng trong sự ngủ nghỉ. Mỗi khi ra khỏi thiền viện hay khu lưu ngụ ẩn dật cũng phải rất thận trọng. Đôi khi không có gì sai quấy hay vi phạm với giới luật của Chùa nhưng nếu có thể dẫn vị đó đến những ảnh hưởng bất thiện thì cũng không nên đi đến đó. Việc này, cũng như những việc khác, là nuôi dưỡng và trau dồi Giáo Pháp trong tâm của hành giả - nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều so với việc phát triển tất cả những loại thói quen và những khả năng khác.

^^^

139. Dưỡng nuôi ô nhiễm – chỉ có dấu hiệu tượng trưng ắt không đủ 


Trong những vấn đề thông thường ở đời, khi phát triển những phẩm chất nhiều người mong muốn, ta luôn dưỡng nuôi ô nhiễm, là hậu quả quay trở lại gây tổn hại cho chính người phát triển những phẩm chất đó. Một chớp thiếu tự kiểm soát cũng đủ cho ô nhiễm lẫn xen vào tâm. Ô nhiễm khởi sanh rất dễ dàng nhưng thật khó cho ta tiêu diệt. Tai hại hơn nữa là chúng ta có xu hướng chịu thua chúng một cách sung sướng! Và như thế chúng ta khuyến khích chúng tăng trưởng và phát triển. Đó là lý do tại sao đâu đâu ô nhiễm cũng bạo dạn lấn áp không biết sợ, ngoại trừ những vị mà tâm đã có Giáo Pháp như lực lượng để vô hiệu hóa chúng, và đặc biệt là tâm của Đức Phật và của chư vị đệ tử A La Hán. Trong các tâm ấy, tuyệt đối không có nơi nào để cho những tay phù thủy ô nhiễm trình diễn.

Bên trong tâm của những vị tỳ khưu dhūtaṅga đang mãnh liệt chiến đấu là cuộc chiến gay go ác liệt, không ai có thể đoán trước bên nào sẽ chiến thắng. Thực ra, những bộ y kasaya (cà sa) mà các Ngài đắp vào thân là ngọn cờ vinh danh những bậc đã thành tựu chiến thắng ô nhiễm trong cuộc chiến quyết định cuối cùng, chứ chỉ là ngọn cờ không thôi thì không đủ làm cho ô nhiễm kinh sợ và chịu thua bỏ chạy. Trái lại, ô nhiễm dường như càng khuấy động vị tỳ khưu dhūtaṅga hơn nữa, bất kể cả tuổi của vị ấy. Vì lẽ ấy vị ấy phải tận lực mãnh liệt phản công một cách quyết liệt như thế. Chiến lược chung đã được áp dụng, giờ đây phải nghĩ ra và áp dụng chiến thuật đặc biệt thích ứng cho mỗi trường hợp cụ thể. Phải chịu đựng những bất tiện và khổ nhọc, phải chấp nhận những thử thách cam go. Nếu không nhiệt thành chiến đấu, chắc chắn sẽ bị ô nhiễm lừa đảo phỉnh gạt. Rồi vị ấy sẽ tự làm cho mình hổ thẹn và trở thành tấm gương không nên theo trong mắt tất cả những người đã từng ngưỡng nhìn lên vị ấy như một hình mẫu và một người dẫn lối. Chỉ có cách là dũng mãnh đấu tranh sống chết cho đến cùng, dù phải hy sinh mạng sống, mới có thể chiến thắng, mới có thể nâng cao giá trị tượng trưng của bộ y cà sa và giá trị của Phật Pháp mới được biểu lộ trước thế gian. Đó là điều mà vị tỳ khưu dhūtaṅga luôn luôn tự nhắc nhở, dạy bảo mình trong cuộc chiến tiến đến Giải Thoát. Đó là con đường thánh thiện (Thánh Đạo) mà Đức Phật đã tuyên ngôn, là chỗ ẩn náu duy nhất, là áo giáp để tự bảo vệ để chống lại sự tàn phá của ô nhiễm, luôn đe dọa, lừa phỉnh và quyến rũ khách hành hương đi lệch ra ngoài Chánh Đạo.

Ngài Acharn không phải là ngoại lệ. Trong những ngày tháng chiến đấu không ngừng nghỉ, Ngài luôn phải đối mặt với tất cả những thử thách, không bao giờ nghĩ đến sống hay chết. Nghĩa trang hay nơi Ngài bỏ xác có thể ở bất kỳ nơi nào và tất cả mọi nơi, nhưng Ngài không bao giờ ngừng chiến đấu. Vì Pháp, Ngài dũng cảm dấn thân vào bão táp cho đến khi thoát được và trao cho đệ tử của mình Pháp mà Ngài đã thành tựu một cách khổ nhọc. Khi rèn luyện đệ tử, Ngài đưa ra những phương pháp mạnh mẽ và can đảm để họ tiến tới hành động và khuyến khích họ không nên kinh sợ trong cuộc Tìm kiếm của mình. Giáo huấn của Ngài lúc nào cũng khích lệ và rọi sáng vấn đề, tăng cường niềm tin và đánh thức họ rằng phải đề phòng những mưu mô xảo quyệt của ô nhiễm, vốn đã thống trị người phàm tục từ rất lâu rồi. Điều đó vạch rõ những mưu chước quỷ quyệt của ô nhiễm và dứt khoát loại trừ ảnh hưởng của nó trong tâm một lần và mãi mãi. Nếu không tận diệt như vậy, việc thay đổi thân hay cảnh giới sanh sống không thay đổi được quyền năng của ô nhiễm trong tâm, và do vậy, lại phải chịu đau khổ không thay đổi. Năng lực áp bức của ô nhiễm vẫn hiện hữu, và sự chuyển tiếp từ cảnh này đến cảnh giới sanh tồn khác cũng giống như di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác trong một ngục tù rộng lớn. Luôn luôn có hiểm họa ẩn núp đợi chờ để từ một bụi rậm, nhảy xổ chụp lấy khách lữ hành qua những cảnh giới khác nhau.

^^^

140. Sự thách thức của Giáo Pháp 


Giáo huấn của Ngài trong những ngày Phát Lồ (Pāṭimokkha) và những ngày khác không giống nhau. Trong những ngày Pāṭimokkha có tới bốn hoặc năm mươi vị tỳ khưu từ những chùa khác đến dự, và thường thì những lời dạy mạnh mẽ và khuấy động lòng người hơn, còn trong những ngày họp riêng với nhóm đệ tử thân cận cùng ở chung một vùng, giáo huấn của Ngài, ngoài sự hùng dũng còn thâm sâu hơn về bản chất và cũng bao quát hơn. Trong một thời giảng như vậy, chư vị đệ tử say mê lắng nghe, hoàn toàn không hay biết gì về thời gian trôi qua và những ảnh hưởng bên ngoài. Hình như tất cả mọi ô nhiễm đều được dập tắt, ý niệm về thời gian cũng chấm dứt. Tâm của những vị tỳ khưu dhūtaṅga lúc bấy giờ hoàn toàn hòa hợp với Pháp của lời dạy, với lòng hoan hỷ cảm kích phi thường và, trong mấy ngày sau, ảnh hưởng sâu đậm vẫn còn được nuôi dưỡng trong tâm. Sự thách thức của Pháp mà Ngài ban truyền hùng mạnh đến nỗi ô nhiễm của người nghe phải mất một thời gian mới có thể dần dần trở lại trong đầu. Rồi đến buổi họp kế đó, một lần nữa bắt buộc ô nhiễm phải tháo lui.

^^^

141. Một vị thiền sư giúp đệ tử như thế nào 


Đó là lý do vì sao Ngài Acharn có sức hấp dẫn các vị tỳ khưu dhūtaṅga, những người quyết tâm nhắm đến mục tiêu Chấm Dứt Đau Khổ, nhưng trong mắt những người khác thì có lẽ là ở mức độ không bình thường. Nhiệm vụ diệt trừ ô nhiễm hiển nhiên là tương đối – đương nhiên là do cá nhân thực hiện, nhưng cũng được trợ giúp nhiều nhờ vào sự hướng dẫn, chỉ dạy, cảnh báo và khích lệ của Ngài Acharn. Đôi khi, có những vị tỳ khưu dhūtaṅga từ những nơi ẩn dật rất xa xôi phải băng rừng về để gặp Ngài khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn mà tự họ không thể giải quyết. Sau khi kể những khó khăn, họ được giải thích thỏa đáng và nhận lãnh giáo huấn, những vấn đề của họ tức khắc được giải quyết. Những khi khác, pháp hành của họ xuống đến một mức độ mà tâm tối đen không lối ra. Ngài Acharn lại giải thích, giúp cho họ mở đường vượt thoát rất xa ra khỏi điểm mà họ bị nghẽn.

Mức độ phát triển của các cá nhân trong nhóm chư vị tỳ khưu dhūtaṅga được họ biết với nhau cũng như giữa Ngài Acharn và đệ tử, điều đó mang lại cả sự kính trọng lẫn khích lệ. Một phần được biết đến qua những cuộc đàm thoại giữa các đạo hữu trong khía cạnh thực hành của Giáo Pháp, khi họ kể lại với nhau những kinh nghiệm của mình. Một vị đệ tử cũng có thể biết mức độ phát triển của vị thiền sư khi trình với Ngài những kinh nghiệm của mình và những gì xảy ra để được chỉ bảo và giải thích, hoặc khi họ xin Ngài giúp giải tỏa những chướng ngại đã chặn ngang tiến bộ của họ. Vị thiền sư đã vượt qua những khó khăn ấy, sẽ có thể rọi sáng những điểm hoài nghi của đệ tử và chỉ dạy họ phải vượt qua chướng ngại đó ở đâu và bằng cách nào. Nhưng cũng có khi vị đệ tử si mê và tự thôi miên mình rằng mình đã thành tựu mức Giác ngộ cuối cùng. Một vị thiền sư đủ khả năng sẽ có thể biết điều ấy. Ngài sẽ chấn chỉnh giả thuyết sai lầm của đệ tử, giải thích cho biết thế nào và tại sao không phải vậy, và chỉ dạy cách thực hành cao siêu hơn mà vị đệ tử phải hành theo đầy đủ trước khi có thể mãn nguyện. Đã hiểu biết mức độ thành tựu của nhau, không cần phải xác chứng bằng lời. Chân lý đã hiển nhiên cho cả hai và tự nó tự chứng minh.

Tuy nhiên, có một cách khác để biết mức độ thành tựu của người khác. Đó là nhờ năng lực của tuệ minh sát, vốn thâm sâu hơn những gì có thể đề cập đến nơi đây. Về điểm này người viết cũng chưa thông thạo, và muốn để cho người khác có nhiều kinh nghiệm hơn đề cập đến khía cạnh này của tuệ minh sát.

Riêng về phần Ngài Acharn Mun, không hề quá khi nói rằng chư vị đệ tử của Ngài hoàn toàn tín nhiệm và hết lòng kính mộ Ngài. Ở với Ngài một thời gian lâu và tuân theo đầy đủ những lời dạy và lối thực hành của Ngài, họ không bao giờ còn chút gì nghi ngờ về mức độ chứng ngộ của Ngài và họ hết lòng đi theo Ngài bằng cả thân và tâm. Quả thật khác xa trường hợp chỉ nghe lời đồn đại. Người viết đã từng hãnh diện tự cao và dùng những lý lẽ ngu dốt để tranh luận với Ngài Acharn một cách trẻ con, quên rằng mục đích đến đây, ở với Ngài là để học hỏi, tu tập và thực hành những lời dạy của Ngài chứ không phải để dạy và rèn luyện Ngài. Nhưng rồi, sau một thời gian, bao nhiêu lý lẽ và biện luận của người viết đều bị Ngài Acharn san bằng, và những gì còn lại chỉ là một xác chết với trạng khờ dại của nó. Điều này lặp đi lặp lại và mỗi lần, xác chết ngày càng chồng chất thêm lên trong cái nghĩa địa của sự ngu dốt. Lẽ dĩ nhiên Ngài Acharn biết rõ người viết bị tính tự cao tự đại ngu dốt của mình chế ngự, nhưng Ngài từ bi không áp dụng biện pháp mạnh để đối xử. Ngài thường chỉ mỉm cười, có lẽ vì thương hại cho tình trạng si mê của người viết. Tuy nhiên, người viết thu được lợi ích từ những cuộc tranh luận ngoan cố này, và Ngài Acharn vui vẻ khoan dung. Đó là thu được rất nhiều những bài học quý giá, được áp dụng để tự dạy mình đến tận ngày nay.

^^^

142. Lý do Ngài Acharn lưu lại một nơi nào đó 


Sau khi thành tựu Giác Ngộ cuối cùng trong vùng rừng sâu của Chiengmai, hình như có một lý do nhất định khi Ngài lưu ngụ tại một nơi nào đó, đặc biệt là nơi mà Ngài ở lâu hơn bình thường. Không bao giờ có ai biết lý do tại sao, nhưng sau khi thận trọng quan sát, ta cũng có thể dễ dàng nhận ra. Thí dụ như trong khi ở tại thị trấn Nakorn Rājāsimā trên đường về từ Chiengmai, có một số đông thiện tín, tỳ khưu và cư sỹ đến tu tập dưới sự hướng dẫn của Ngài và đạt tiến bộ khả quan trong việc phát triển tâm. Trong số ấy có vài vị theo Ngài đến Udorn Thani và Sakol Nakhorn và ở đó đến khi Ngài viên tịch. Tất cả các vị này đã vững chắc kiên cố ở mức độ chứng ngộ của mình. Trong trường hợp chư tỳ khưu, có một số vị về sau trở thành những thiền sư trứ danh gánh vác nhiệm vụ dạy dỗ và huấn luyện thiện tín đến ngày nay. Các vị đệ tử cư sỹ vào thời bấy giờ cũng nhiệt thành hỗ trợ Giáo Pháp trong phạm vi riêng của mình.

Trong mùa an cư kiết hạ tại Udorn, Ngài Chao Khun ở đó, trước kia từng là đệ tử của Ngài Acharn trong những ngày đầu tiên, đã dẫn nhiều vị tỳ khưu và cư sỹ của mình đến đảnh lễ Ngài Acharn. Ngài Chao Khun lúc nào cũng hết lòng trông nom chăm sóc Ngài Acharn và khuyến khích thiện tín đến làm phước và lắng nghe Ngài giảng dạy càng nhiều càng tốt. Có lẽ Ngài Acharn ở lại tại làng Namone trong thị trấn Sakol Nakhorn vì nơi đây có một cụ bà cư sỹ áo trắng là trưởng nhóm đệ tử cư sỹ của Ngài tại đó. Ngài thường ban dạy giáo huấn cho bà và khen bà rất tiến bộ trong việc trau dồi và phát triển tâm, mà theo Ngài là rất hiếm có.

^^^

143. Khả năng tha tâm thông của một bà tín nữ 


Làng Nong Phue tọa lạc trong một thung lũng rộng lớn có một khoảnh đất hoang vu thích hợp với chư vị tỳ khưu dhūtaṅga. Cũng như trong làng Namone, nơi đây có một cụ bà tín nữ khoảng tám mươi tuổi. Cụ bà là một thiền sinh đức độ được Ngài Acharn đặc biệt giúp đỡ. Bà rất yếu và đi phải chống gậy, tuy nhiên khi nghe tin Ngài bà cũng cố gắng đến để đảnh lễ. Từ nhà đến bà phải rất vất vả, dừng chân ba bốn lần để lấy hơi và nghỉ ngơi, run rẩy mệt nhọc. Cảnh tượng đau khổ của bà lão trông thấy quả thật đáng thương, nhưng cũng rất cảm kích và khích lệ khi thấy ý chí mạnh mẽ của bà.

Đôi khi Ngài Acharn làm ra vẻ la rầy, hỏi tại sao đã yếu đuối như vậy mà còn cố gắng làm chi cho mệt. Nhưng cụ không nản chí và thành thật bạch Ngài tại sao cụ đến. Rồi Ngài hỏi về những kinh nghiệm của cụ trong khi ngồi thiền và giảng giải chỉ dạy cụ. Ngoài mức thành tựu trong khi hành thiền, cụ bà còn chứng đắc thần thông đọc được tư tưởng của người khác và truyền thông với chúng sanh ở cảnh giới khác. Bà thường thẳng thắn và mạnh dạn kể lại cho Ngài những kinh nghiệm lạ thường trong khi hành thiền, không e ngại hay lúng túng trước mặt nhóm mười vị tỳ khưu và sāmaṇera đang nghe. Ngài cười, nói rằng cụ bà rất ngay thật và không sợ gì hết.

Điều đáng lưu ý là khả năng đọc tư tưởng người khác của bà. Về Ngài Acharn bà nói, “Tâm của Ngài đã Giải Thoát lâu rồi. Con đã biết từ lâu. Dù ở đây hay ở nơi nào khác, tâm của Ngài không có ai bằng. Quả thật là tối thượng trong thế gian. Nhưng tại sao Ngài vẫn hành thiền mỗi ngày vậy?”

Ngài cười và trả lời, dạy bà “Sư sẽ chuyên cần tinh tấn cho đến khi chết. Mức độ cố gắng không bao giờ thối chuyển. Những ai mà không làm vậy ắt không phải là đệ tử của Đấng Như Lai.”

“Nhưng đối với Ngài, không còn đến và đi nữa”, cụ bà nhấn mạnh, “Con nhìn tâm Ngài, nó hoàn toàn sáng tỏ và tối thượng, bao trùm tất cả tam giới. Không thể giữ bí mật điều gì với Ngài. Nhưng tâm của con thì chưa phát triển được đầy đủ như vậy. Đó là lý do tại sao con đến đây để nghe Ngài dạy thêm.”

Cuộc đàm thoại của cụ bà và Ngài Acharn là một minh chứng đầy thuyết phục rằng bà đã rất tiến bộ trong thiền tập. Mỗi khi gặp những vấn đề khó khăn mà tự bà không thể giải quyết thì bà chịu khó chống gậy, cố sức khổ nhọc ra khỏi nhà, lên đường đến tham vấn Ngài Acharn. Ngài luôn luôn thương bà và đặc biệt lưu tâm giáo huấn bà. Mỗi khi thấy bà đến, chư vị tỳ khưu và sāmaṇera lén lút tụ lại gần đó để chăm chú lắng nghe kinh nghiệm của bà và những lời giảng dạy của Ngài. Quả thật thích thú và rất cảm kích.

Kinh nghiệm của bà rất khác nhau, bao gồm từ tuệ minh sát về Tứ Diệu Đế đến những cuộc tiếp xúc với chúng sanh trong những cảnh trời khác nhau. Đôi khi Ngài khuyến khích bà tiếp tục quán chiếu và những lúc khác khuyên bà không nên vương vấn nhiều trong những hiện tượng tương tự.

Bà cũng nói về tâm lý của những vị tỳ khưu và sāmaṇera đang ở với Ngài, làm cho các vị này càng tò mò muốn nghe và dĩ nhiên, càng lo sợ. Bà nói, có một thứ tự về mức sáng tỏ từ tâm Ngài trở xuống tâm của chư vị tỳ khưu và sāmaṇera, giống như thứ tự to lớn và sáng tỏ của các vì sao trên trời. Quả thật là một cảnh rất khích lệ, bà nói, khi thấy tâm sáng tỏ với ánh sáng của Pháp, không bị đen tối và lo âu che mờ. Dù là tâm của các vị tỳ khưu và sāmaṇera trẻ tuổi đi nữa cũng được Giáo Pháp rọi sáng theo mức độ thành tựu.

Bà cũng nói về cảnh giới Phạm Thiên (Brahma), và bạch hỏi Ngài tại sao ở đó chỉ có các vị tỳ khưu, không có thiện tín. Ngài trả lời rằng bởi vì tất cả đều là bậc anāgāmī (Bất Lai hay A Na Hàm) khi còn là tỳ khưu trong thế giới loài người. Cũng có một số thiện tín cư sỹ. Rồi Ngài hỏi cụ bà tại sao lúc “ở trên đó” bà không hỏi các Ngài. Bà cười và trả lời rằng lúc ấy bà quên, nhưng trong một lần tới bà sẽ nhớ để hỏi. Câu hỏi của Ngài Acharn nhắm hai mục tiêu: thứ nhất, là để làm sáng tỏ những hoài nghi của bà và thứ đến, để cảnh giác bà không nên mất thì giờ nhiều quá vào những việc “bên ngoài”, thay vì tập trung cái nhìn hướng vào những sự thật bên trong, đó mới là đường thẳng dẫn đến Giác Ngộ. Điều này cụ bà vâng dạ tuân hành.

Ngài Acharn tán dương mức thành tựu của bà và nói rằng trí tuệ của bà phát triển có phần tiến bộ hơn nhiều vị tỳ khưu. Có thể Ngài lưu lại làng Nong Phue lâu dài là vì bà thiện tín áo trắng và mức thành tựu của bà.

Những lý do khác là vì làng này là trung tâm của những người Phật tử chuyên hành đạo – cả tỳ khưu và cư sỹ, luôn cả những vị ở trong thung lũng và những vị ở vùng lân cận – vốn toàn là rừng núi, hang động, và những nơi ẩn dật hoang vu thích hợp với ai muốn sống đơn độc.

Ngài Acharn lưu ngụ tại làng Nong Phue trong thời gian năm năm. Giờ đây bảy mươi lăm tuổi, đã già và yếu hơn, nên không còn tìm đến những nơi ẩn dật hoang vu như trước mà thường cư trú trong xóm làng để làm nơi trú và nương tựa cho chư đệ tử, như một cội cây to lớn cung cấp nơi trú ngụ, hơi ấm và hoa quả cho chim chóc và con người. Ngài không còn giao tiếp nhiều với chúng sanh vô hình mà nếu có thì chỉ hãn hữu thôi. Sự trợ giúp của Ngài cho chư vị tỳ khưu và thiện tín ở đây hữu hiệu hơn nhiều so với ở thị trấn Sakol Nakhorn.

Như đã đề cập đến trên đây, chung quanh làng chỉ là rừng và núi mà cũng là vùng bị nhiễm bệnh sốt rét. Trong mùa mưa những người đến thăm Ngài được khuyên là nên về sớm, còn trong mùa khô ráo thì có thể ở lại lâu dài hơn. Những người đã bị bệnh sốt rét cần phải thực hành lòng nhẫn nại đến mức tối đa. Vào lúc bấy giờ, hy vọng có thuốc thông thường để uống thật rất hiếm hoi. Những bệnh nhân đệ tử Ngài được tu tập để khơi dậy ảnh hưởng trị liệu của Giáo Pháp để tự chữa trị cho mình. Bất luận đau nhức hay khổ nhọc nào cũng phải được sử dụng như đề mục quán niệm và như những thử nghiệm năng lực niệm và tuệ của mình. Đó chỉ là phương cách duy nhất để tránh bị đau khổ làm chủ và cũng là để rút ngắn thời gian bị bệnh.

^^^

144. Đương đầu với thử thách 


Những ai có thể đương đầu với thử thách của những cơn đau đớn và khổ nhọc khi lâm bệnh và vượt qua được những thử thách ấy bằng ý chí quả cảm do niệm và tuệ tạo nên chắc chắn sẽ không bị lay chuyển trong những cơn bệnh khác cũng như những lúc mạnh khỏe trong tương lai. Khi gặp phải trường hợp khẩn cấp hoặc khi phải đương đầu với cái chết, vị ấy chắc chắn được trang bị tỉnh giác, là cái có thể đưa vị ấy đến việc nhận ra mọi biểu hiện của đau khổ là một Thánh Đế. Khoảnh khắc lâm chung nguy kịch được xem là một hiện tượng tự nhiên, một khía cạnh của sự sống. Thánh Đế được nhận ra bằng tuệ giác, không dính mắc vào bất kỳ ham muốn nào, mà sự thật được chứng ngộ luôn luôn hữu hiệu trong tâm. Chính niệm và tuệ này cứu độ hành giả trong những giờ phút khẩn cấp, đưa họ tới bờ An Toàn bằng cơ năng quán niệm của nó. Họ không còn là nạn nhân vô phương cứu giúp, như khi khổ không phải là một đối tượng quán chiếu. Về phương diện vật chất, họ có thể trông mệt mỏi và yếu đuối như những người bệnh khác, nhưng về mặt tinh thần, niệm và tuệ của họ giống như một chiến sỹ quả cảm chuẩn bị xông trận. Đó là chiến đấu và không chút lo sợ sẽ phải khổ bao nhiêu hay loại khổ nào sắp khởi sanh. Trong tâm hành giả chỉ có ý chí khám phá bất kỳ đau khổ nào khởi sanh, và một cách buông xả, nhận thức đúng như nó thật sự là, chỉ là những hiện tượng của thân, cảm giác, trạng thái tâm, và hiện tượng tự nhiên. Không sợ bất kỳ biểu lộ nào của đau khổ. Lo sợ, nếu có, chỉ là sợ niệm và tuệ của mình không đủ khả năng phát hiện và nhận ra kịp thời những điều kiện làm phát sanh đau khổ.

Về mức độ chuyên cần trong việc quán niệm, không được lo phải khổ nhọc thế nào hay cần mẫn siêng năng đến đâu. Lo lắng như vậy có ảnh hưởng phá hoại, làm suy yếu và gây trở ngại trên con đường tiến bộ của mình. Chỉ nghỉ làm thế nào để tăng trưởng khả năng quán niệm đã tu được, để có hành động phù hợp thông qua sự phát triển niệm, tuệ, tín và tấn. Đã chứng ngộ sự thật chung, đau khổ là thật (trong phạm vi của nó), thân và tâm cũng vậy. Mỗi cái đều là thật (trong phạm vi của nó), không có đối nghịch hoặc chồng chéo. Khi đó, nguyên nhân của đau khổ (ái dục) giảm dần, đồng thời lo âu và sợ đau khổ, bệnh hoạn và chết cũng tan biến. Những mối lo âu và sợ sệt như vậy là bất thiện, phá hoại và làm ta thất vọng. Khi niệm và tuệ đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ thì cơn sốt sẽ tan biến hoặc, nếu chưa tan biến thì cũng không còn tiến triển đến mức độ có thể quấy rầy trạng thái tâm thanh bình an lạc của hành giả nữa. Nói cách khác, sẽ không còn điều kiện gây đau khổ cho cả thân lẫn tâm.

^^^

145. Giáo Pháp hộ trì người thực hành Giáo Pháp 


Nỗ lực chuyên cần quán niệm này, đặc biệt là trong những khi ốm đau hay khổ, lúc nào cũng là phương tiện để giũa mài vũ khí niệm và tuệ. Sự đau khổ đề cập ở phần trên hàm xúc cả đau khổ về thân và tâm. Mất tự kiểm soát khi đau và khổ là dấu hiệu của thất bại trong việc phát triển tâm của hành giả. Đó là hậu quả của sự chểnh mảng không giũa mài khí giới để tự bảo vệ trong cuộc chiến chống lại quân thù vốn luôn tận dụng lợi thế lúc hành giả thiếu sót niệm và tuệ. Trái lại, một hành giả mà có thể giữ mình bình tĩnh và trầm lặng bất kể đau khổ dồn dập tấn công như thế nào, là người đáng được tôn vinh và kính trọng như một dũng sỹ thực thụ. Trong thực tế, tinh thần chiến đấu ấy quả thật là mục tiêu của việc thực hành Giáo Pháp. Vị ấy đã đạt được kết quả của sự tu tập và bộc lộ thành quả ấy cho người khác thấy. Một dũng sỹ thật sự không bao giờ lùi bước trước cuộc tấn công, dù đó là cái chết của thân mình. Nhưng tâm không khi nào rời khỏi niệm và tuệ, vốn là cái nâng đỡ duy nhất trong trường hợp thân đã bị tổn hại đến mức không thể cứu chữa. Đó là pháp tu tập được khuyến nghị trong đoàn thể chư vị ty khưu dhūtaṅga.

Khi đã chứng ngộ sự thật, vị hành giả vững chắc không lay chuyển giữa những cuộc tấn công của quân thù. Vị ấy tiếp tục chiến đấu đến khi thân chết, là cái sớm muộn rồi cũng đến, nhưng tâm luôn giữ chặt vũ khí tự vệ niệm và tuệ, là cái cuối cùng sẽ đưa được hành giả tới bến bờ An toàn với tư cách người chiến thắng. Đúng như lời Phật dạy “Dhammo have rakkhati dhammacāriṁ” - Pháp bảo vệ bất cứ ai thực hành theo Pháp. Những ai kiên định trong sự tu tập của mình và cương quyết đi theo Giáo Pháp chắc chắn sẽ chứng nghiệm sự thật này, trong khi đó những ai không kiên định và không quyết tâm thì không thể mong chờ gì tốt đẹp. Quả không thể đi ngược nhân của nó. Đó là Pháp mà Đức Phật đã ban truyền.

Những vị tỳ khưu dhūtaṅga lúc nào cũng ấp ủ nguyện vọng thành đạt quả lành của Giáo Pháp trong kiếp sống này, càng nhiều càng tốt. Hạnh phúc an lạc của pháp hành thiền và thành quả “nhổ mũi tên” của trí tuệ là mục tiêu cứu cánh ngay nơi đây và trong hiện tại. Dù kết quả của những thử nghiệm này thế nào đi nữa, các vị đều trang bị cho mình đầy đủ ý chí nhiệt thành cương quyết và hạnh tinh tấn chuyên cần.

^^^

146. Gương trí tuệ và sự kham nhẫn 


Ngài Acharn không bao giờ quên khuyến khích chư vị tì khưu và sāmaṇera đệ tử nên làm tròn bổn phận, trong lúc đau ốm cũng như khi khỏe mạnh. Những thời giảng của Ngài luôn luôn khuyên tinh thần can đảm chiến đấu hướng về mục tiêu giải thoát nhờ vào tự nỗ lực. Ngài nghiêm khắc quở rầy vị nào bày tỏ dấu hiệu yếu ớt và kém nhẫn nại chịu đựng trong khi ốm và có thể cấm dùng thuốc và không cho phép các vị đạo hữu chăm nom. Than van rên rỉ và tỏ ra kém nhẫn nại không phải là phương cách làm chấm dứt đau khổ và cũng không phải là tính cách của một vị tỳ khưu, là người cần làm gương về trí tuệ và sự kham nhẫn. Phải tuyệt đối ngăn cấm sự yếu đuối như thế trong hàng ngũ Phật tử thực hành, nếu không thì sẽ là gương chán nản để cho người khác noi theo, làm cho càng ngày càng có nhiều người rên rỉ và quằn quại như những con thú sắp chết. Nếu bệnh đau và khổ có thể trị bằng những phản ứng cuồng loạn như vậy thì ắt không còn phương thuốc nào nữa. Tóm lại, những phản ứng thiếu kiểm soát này chỉ là biểu hiện của tính yếu hèn đáng khinh của chính mình.

Vị nào đã can đảm ứng phó với đau nhức và khổ nhọc bằng niệm và tuệ cũng luôn luôn được ngợi khen. Ngài Acharn tán dương ý chí dũng cảm và làm vị đó hoan hỷ bằng một bài giảng gây ấn tượng sâu sắc. Thậm chí sau khi sức khỏe vị ấy đã hồi phục, Ngài vẫn còn tán dương.

“Đó là cái chúng ta phải làm với tư cách là những dũng sỹ chiến đấu chống lại Đau Khổ,” Ngài Acharn nói. “Không nên than rằng mình quá đau khổ. Bổn phận của chúng ta là phải chiến đấu chống lại nó dù nhiều hay ít. Nên tự nhủ, “Dù thế nào ta cũng phải dốc toàn lực để chiến đấu. Ta phải can đảm chiến đấu đến hơi thở và giọt máu cuối cùng. Quyết không lùi bước thối lui.” Tất cả những đau khổ tự đó là để ta nhận ra và quán niệm, bản thân chúng là biểu hiện của Khổ Thánh Đế. Làm sao một người có thể nhận ra mọi đau khổ nếu vẫn còn từ chối không chịu đối mặt với bất kỳ loại đau khổ nào hay mức độ đau khổ nào? Chính nhờ khả năng suy niệm này mà Đức Phật được tôn là Đức Phật. Không bao giờ thực hiện được bằng cách kêu la rên siết.

“Có bao giờ Đức Phật dạy ai muốn chứng ngộ sự thật thì phải kêu la rên siết suốt con đường đi tới sự thật không?” Ngài hỏi. “Đó sẽ là phương pháp mới mẻ làm cho Giáo Pháp của Đức Phật trở nên lỗi thời. Thầy vẫn bám theo Giáo Pháp, không kể nó cũ thế nào. Thầy có đức tin vững chắc nơi Đức Phật và không thể buộc mình nói ngược lại Ngài, vì như vậy sẽ là tự tử.”

Đó là giáo huấn mà Ngài Acharn giảng dạy cho những vị tỳ khưu đã bó tay qui hàng những đau khổ vì ốm hay vì pháp hành nghiêm khắc. Những vị chểnh mảng trong quán niệm trong những khoảnh khắc thử thách này chắc chắn được Ngài Acharn mạnh mẽ phản đối. Nhờ vậy họ được khích lệ đánh thức khả năng quán niệm trong họ, là cái sẽ tạo ra ảnh hưởng trị liệu của Giáo Pháp. Nhờ phương pháp này mà họ vững vàng tiến bộ hướng đến Giải Thoát.

^^^

147. Cái chết của hai vị tỳ khưu 


Trong thời gian Ngài Acharn lưu ngụ tại làng Nong Phue có hai vị tỳ khưu viên tịch. Một vị vào lứa tuổi trung niên, đã thọ lễ xuất gia để thực hành Giáo Pháp (không phải chỉ để học Giáo Pháp) và thỉnh thoảng đã ở với Ngài tại nhiều nơi khác nhau từ Chiengmai đến Udorn Thani, đến Sakol Nakhorn và rồi viên tịch tại làng Nong Phue. Vị này đã tiến bộ tốt đẹp trong pháp hành và thường thọ lãnh những lời dạy của Ngài Acharn để phát triển trí tuệ. Bản tính của vị ấy cương quyết và quyết tâm tu tập. Mặc dù ít học nhưng vị ấy có thể thuyết giảng những thời Pháp rất cảm động và đầy chỉ dẫn, đưa ví dụ và giải thích rõ ràng. Rất tiếc là sư bị bệnh lao lâu năm và viên tịch an lành vào một buổi sáng, lúc khoảng bảy giờ. Cách ra đi của sư là một gương sáng của người đã cống hiến cả đời mình cho việc thực hành Giáo Pháp. Nó cho thấy rằng một cái tâm đã thuần thục thấm nhuần Giáo Pháp có thể tách rời khỏi trạng thái của thân vào lúc cơ thể hoại diệt.

Vào khoảnh khắc nguy kịch, năng lực của ý chí và trí tuệ được đặt trước thử nghiệm mang tính quyết định trong vấn đề cá nhân và riêng tư nhất mà không ai, dù là người thân yêu nhất, có thể đưa tay ra giúp. Đó là khoảnh khắc sẽ đến với tất cả mọi người, người xấu người tốt, bậc trí tuệ hay hạng cuồng si, khỏe hay yếu. Kết quả từ việc này lại cũng riêng tư và cá nhân nhất, hoàn toàn thuộc về sở hữu của mỗi người. Do đó, lời cảnh báo mà Đức Phật đã dạy (trong kinh Pháp cú) có giá trị lớn nhất:

Thế gian đắm chìm trong đêm tối.
Và bị (ô nhiễm của chính mình) liên tục thiêu đốt.
Vậy thì lợi dưỡng trong dục lạc có ích gì?
Tại sao không đi tìm ánh sáng?

Chừng nào còn sống đắm chìm trong đêm tối, chừng ấy sẽ chết, dò dẫm trong tối tăm và rồi chịu quả khổ trong những cảnh giới tối tăm. Đối với những ai sống dưới ách thống trị của lợi dưỡng (ham mê dục lạc) và tự phụ, đoạn trên là một cảnh báo nghiêm khắc, đủ làm cho họ thức tỉnh và xấu hổ. Tâm của người thế gian thường là bất trị và ngoan cố. Nó cần được nhắc nhở, quở mắng thường xuyên. Câu chuyện hai vị hai vị tỳ khưu viên tịch trong làng Nong Phue được tường thuật nơi đây chỉ với mục đích đó.

Ngay trước lúc vị tỳ khưu trung niên ấy viên tịch thì Ngài Acharn và những vị tỳ khưu khác vào làng trì bình vừa về đến nơi, được chứng kiến sự ra đi của sư và lấy đó làm bài học quí giá, cảnh tỉnh mọi người. Một chút sau khi vị sư viên tịch, Ngài Acharn vốn vẫn giữ im lặng suốt quãng thời gian dó, long trọng nói với các tỳ khưu khác: “Giờ đây không có gì phải lo lắng cho sự ra đi của vị sư này. Sư đã tái sanh vào cảnh giới Phạm Thiên thứ sáu, cảnh Ābhassarā (Quang Âm Thiên). Nếu sống được thêm ít lâu nữa để phát triển thêm tuệ minh sát, có thể sư sẽ tái sanh vào cảnh giới cao hơn năm bậc và từ đó có thể hướng đến Giải Thoát mà không cần trở lại đây nữa. Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ và không phải là khó khăn nữa. Bất kể khó khăn và lo lắng nào trong hiện tại chỉ liên quan đến quí sư ở đây. Các sư chuẩn bị đi đâu? Đến cảnh giới của loài thú, a tu la, ngạ quỉ, địa ngục hay Niết Bàn? Hãy lưu tâm đến con thuyền sắp đưa quí sư đi — tức thái độ tâm của chính mình. Nó quay đầu về hướng nào? Hãy luôn luôn dùng địa bàn hướng dẫn thái độ tâm đi đúng hướng trước khi khoảnh khắc ấy đến với các sư. Sau đó không thể sửa chữa được nữa.”

Vị tỳ khưu thứ nhì chết vì bệnh sốt rét. Vị này sanh trưởng tại thị trấn Ubol Rājathāni và viên tịch chỉ một tháng sau khi nhiễm sốt rét. Trước khi sư viên tịch, một vị tỳ khưu khác biết trước vì thấy linh ảnh trong khi hành thiền.

Trong một buổi luận đạo với Ngài Acharn vị sư ấy thuật lại giấc mơ của mình trong đêm trước, nói rằng trong khi hành thiền tâm của sư nhập vào trạng thái nhất điểm, và sư thấy Ngài Acharn đứng trước một đống củi. Sư thấy Ngài Acharn ra lệnh cho một người chất lên đống củi và nói rằng đống củi này sẽ được dùng để thiêu vị sư ốm tại đây vì ở đây tốt hơn là nơi khác. Vị sư tỏ ý ngạc nhiên bạch hỏi Ngài Acharn tại sao, vì sư thấy rằng bệnh tình của vị sư ấy không đến nỗi trầm trọng lắm.

Ngài Acharn trả lời rằng Ngài đã biết rằng vị sư bị bệnh sẽ bị chết không tránh được, nhưng không có gì phải lo cho tương lai của vị ấy. Chắc chắn vị ấy sẽ tái sanh vào một cảnh giới an lạc, nhưng không được nói cho vị ấy về cái chết sắp đến của mình. Nếu biết, vị ấy có thể sợ hãi, và vì vậy có thể mất cơ hội vào được cảnh giới đã giành cho mình.

Vài ngày sau đó, bệnh nhân bỗng nhiên bị sốt nặng với triệu chứng của sốt rét vào đêm khuya, và viên tịch an lành sau vài tiếng đồng hồ. Ngài Acharn có thể thấy trước sự kiện tương lai, nhưng Ngài không muốn kể với ai.

Có một vị tỳ khưu nữa cũng lâm bệnh sốt rét. Vào buổi sáng nhiệt độ lên cao. Tình trạng trầm trọng đến mức sư không thể đi trì bình và không thể thọ thực. Sư chiến đấu chống lại cơn sốt bằng cách chú tâm quán niệm từ sáng đến ba giờ chiều thì giảm sốt. Sư rất mệt vì cố sức quán niệm, chỉ tập trung tư tưởng mà không dùng đến trí tuệ. Chính vào lúc bấy giờ Ngài Acharn đang quan sát pháp hành của sư. Đến bốn giờ chiều sư đến gặp Ngài Acharn và được Ngài cho biết rằng cách hành như thế không mang lại lợi ích.

“Con không thể nhận ra bản chất của thân, cảm giác, trạng thái tâm và các hiện tượng khi mà chỉ đặt tâm trên đó,” Ngài Acharn dạy. “Đó là phương pháp của một đạo sỹ tu khổ hạnh hay là phương pháp như chọi gà, không phải con đường của vị tỳ khưu muốn chứng ngộ sự thật của mọi vật. Con không thể chứng ngộ được gì khi áp dụng phương pháp ấy. Ta đã kiểm tra xem con làm sao và thấy con chỉ chú tâm vào chỗ đau mà không dùng trí tuệ. Bằng cách ấy con không thể tiến bộ. Hãy nhớ rằng trí tuệ phải làm nền tảng cho mọi cố gắng quán niệm. Đó là phương pháp nhằm Chấm Dứt Đau Khổ.”

^^^

148. “Một người cứng cỏi” không sợ cọp – Hãy coi những gì mình sợ là thầy của mình 


Thời gian và nơi chốn không giới hạn việc trợ giúp đệ tử của Ngài Acharn. Nó tùy vào việc khi nào cần Ngài giúp, vào lúc nào, tùy từng trường hợp cụ thể. Có lần Ngài thẳng thắn nói ngay với một vị đệ tử: “Con hãy đến hang động kia hành thiền. Hơn là ở lại đây. Con cần thuốc mạnh. Trong hang động ấy có con cọp sẽ cho cách đối xử cần thiết cho một nhà sư ngoan cố như con. Hãy nhận cọp ấy là thầy, con sẽ có thể học hỏi nhiều thêm. Con sợ cọp, vậy con phải đón mừng con cọp này là huấn luyện viên và thầy. Người nào sợ ma cũng phải nhận ma làm thầy. Đó là đường lối chân chính để tự rèn luyện.”

Vị tỳ khưu này lúc còn tại gia nổi tiếng là “lì đời”, cứng cỏi, gan dạ và khá ngoan cố. Khi được trao cho lối đối xử “mạnh mẽ” như vậy thì cương quyết thực hành như đã được dạy bảo, tự nghĩ rằng Ngài Acharn sẽ không gửi ta đến chỗ chết.

“Dù thế nào cũng được, bất cứ gì có thể xảy ra, ta sẽ lên đường”, vị sư tự nhủ, “bởi vì như vậy ta sẽ thấy sự thật từ lời nói của Ngài Acharn. Ngài Acharn được biết là không bao giờ nói gì mà không thận trọng suy nghĩ. Lời nói của Ngài lúc nào cũng có ẩn ý. Ngài chứng tỏ rằng Ngài đã biết suy nghĩ của người khác rất đúng. Chắc Ngài cũng đã biết những gì sẽ đến với ta trong hang động ấy, nếu không ắt không bảo ta đi. Nếu ta phải chết ở đó, thì đó là lúc ta phải chết. Nhưng nếu không chết, ta sẽ có thể nhận thức điều trước kia chưa được biết. Ngài đã ra dấu. Giờ đây ta sẽ ra đi và thực hành những gì Ngài bảo làm.”

Quyết tâm như vậy, sư tự đắp lấy đầy đủ tam y và đến bạch với Ngài Acharn, xin từ giã.

“Con đi đâu?” Ngài Acharn hỏi.
“Bạch Ngài, con đi tìm cái chết trong hang động ấy!” Vị sư liền trả lời thẳng thắn.
“Thầy không bảo con đi và chết ở đó! Thầy bảo con đi đến đó để phát triển tâm!’ Ngài Acharn nói.

“Đúng rằng Ngài không có bảo con đi để chết ở đó, nhưng con có nghe người ta nói rằng có một con cọp to lớn và rất dữ tợn sống trong một hang gần nơi con sắp đến, và hang của con nằm trên đường con cọp thường qua lại hàng ngày. Con cọp dữ tợn ấy cũng thường vào ra hang động của con. Con sợ nó sẽ thật sự ăn thịt con. Vì lẽ ấy con trả lời với Ngài như vậy.”

Ngài Acharn liền hỏi tại sao, mặc dù có nhiều vị tỳ khưu đã đến ở đó mà không bao giờ bị con cọp ấy làm phiền. “Con có nghĩ rằng cọp thấy thịt của con ngon hơn thịt của người khác chăng?” Ngài hỏi. Tâm là một tay phù thủy tài giỏi, đầy mưu mô gian xảo để quyến rũ và làm cho hành giả sợ phải rời xa mục tiêu của mình. Nếu không tự phê bình một cách nghiêm khắc, hành giả sẽ không bao giờ có thể khép mình vào kỷ luật hay phát triển tâm. Ngài cảnh báo vị tỳ khưu: “Đây chỉ là điểm khởi đầu, và con đã bị tiếng thì thầm của ô nhiễm thôi miên. Con nghĩ mình có thể sống sót sau cơn thử thách đó chăng? Con chưa chạm mặt với tử thần, tại sao đã sợ nó? Thầy nói cho con nghe sự thật. Chính sự sanh là nguyên nhân đầu tiên của tử. Nếu không sanh ắt không tử. Tại sao con không sợ sanh? Tất cả mọi người đều khát khao mong muốn được sanh, rồi được sanh mãi, mặc dù được sanh trong một kiếp đã đủ để tạo bao nhiêu đau khổ không thể tả rồi. Nếu con người có thể mọc thêm ra như tre, con người sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc được sanh mà không cần nghĩ đến chết, là cái làm con người sợ hơn cả trăm lần.

“Con là một Phật tử thực hành Giáo Pháp! Tại sao còn sợ chết, có lẽ còn hơn một người cư sỹ không tu tập. Tại sao con chịu bó tay quy hàng ô nhiễm dễ dàng như vậy đến mức quẫn trí? Con có niệm và tuệ của con! Tại sao không sử dụng chúng mà nín thinh trước tiếng thì thầm đe dọa của ô nhiễm, để cho những mánh khóe gian xảo của chúng được giữ kín?

“Chỉ khi ra chiến trường người chiến sỹ mới có thể chiến thắng. Nếu còn sợ chết thì ra trận làm gì? Chỉ khi nào can đảm đối mặt với cái chết mới có thể chiến thắng. Nếu thật sự con hy vọng Chấm Dứt Đau Khổ thì phải biết rằng sợ chết là một loại Đau Khổ mà chính con đã tự áp đặt vào mình, và con phải loại bỏ cái sợ ấy trong trận chiến, nơi mà con sẽ có thể thấy cái hại của đau khổ con tự khoác vào mình. Điều ấy tốt hơn là tự mình bó tay quy phục tiếng thì thầm của ô nhiễm và vĩnh viễn chịu mang cái ách của nó.

“Hãy suy nghĩ xem mình chọn tin vào điều gì: Giáo Pháp và những lời dạy của Thầy con, hay tiếng thì thầm của ô nhiễm rằng ở đâu cũng có những con cọp dữ chỉ chờ con đến để ăn thịt. Thầy đã dạy và đã tự khép mình vào kỷ luật ấy để có được thành quả mà con thấy ngày nay. Mong rằng con có lựa chọn đúng cho chính con.”

Vị tỳ khưu an lòng vững dạ và rất hoan hỷ với những lời dạy thành thật và thẳng thắn của Ngài Acharn, quỳ lạy lãnh giáo và bái từ Ngài Acharn rồi vui vẻ lên đường đi đến hang đó.

Sư đến hang với tâm vẫn còn hoan hỷ và sau khi đặt xuống những vật dụng cần thiết, nhìn quanh để xem nơi nào có thể nghỉ đêm. Trong một chớp nhoáng, mắt của sư đã bắt đầu giở mánh khóe ra. Sư vừa mới nhìn thấy dấu chân cọp ở miệng hang, và rồi có tiếng nói khẽ trong tai, “Có một con cọp sống nơi đây!” Rồi ô nhiễm ám ảnh, sư cảm thấy như bị tình trạng khùng điên lo sợ hoàn toàn áp đảo. Lòng hoan hỷ và sự can đảm khi được nghe lời dạy của Ngài Acharn đã tan biến đâu mất. Trong tâm sư chỉ còn đầy trạng thái lo sợ rợn người, ngăn cản mọi cố gắng để bình tĩnh trở lại. Sư cố làm giảm bớt cơn sợ bằng cách xóa dấu chân cọp dưới đất, nhưng nỗi sợ vẫn còn đó - nó nằm trong tâm, không phải trong dấu chân cọp, nỗi Sợ ngoan cố đeo dính liền tâm sư.

Trong suốt đêm ấy và cả ngày hôm sau, sư mãi mãi bị vấn đề lo sợ “không thể giải quyết” ấy quấy rầy. Khi đêm tối đến thì nỗi sợ tăng trưởng và sư có cảm tưởng rằng chỗ đó đầy cọp. Sau đó sư bị hành hạ trong cơn sốt lạnh người đặc biệt của bệnh sốt rét, cộng thêm phần đau khổ vật chất vào nỗi khổ tinh thần, biến nơi đây, đối với sư, thật sự là địa ngục trần gian. Tuy nhiên, dù sao, sư cũng đáng được khen ngợi vì không ngừng cố gắng, mặc dù liên tục thất bại và chán nản ngã lòng.

Sư tiếp tục chiến đấu chống nỗi sợ của mình bằng nhiều cách, trong khi bị những triệu chứng của bệnh sốt rét hành hạ. Những lúc nhớ lại lời dạy của Ngài Acharn thì lòng phấn khởi tăng lên, nỗi sợ tan biến. Sau đó, khi nỗi sợ khởi lên mạnh mẽ thì sư bạo dạn đối phó với hiểm nguy và cái chết.

“Trước khi đến đây, ta đã quyết tâm,” sư tự nhủ với lòng mình, và “đã bạch với Ngài Acharn rằng ta đến đây để chết. Ta đã đến đây với lòng dũng cảm và hân hoan, nhưng giờ phút này ta đang làm gì đây? Thật là xấu hổ khi cứ sợ hãi tràn ngập thế này! Chính tâm của ta thúc giục ta đến đây, và giờ đây cũng chính cái tâm của ta gian xảo lừa ta, làm cho ta điên đầu vì sợ hãi. Tất cả những điều ấy là gì? Ta không còn là ta nữa à? Có phải ta bỗng nhiên trở thành một con thú hèn nhát chăng? Tốt hơn ta hãy quyết định: phải ngồi bên bờ vực thẳm hành thiền để mỗi khi lơ đễnh thất niệm là phải té chết dưới đó? Khi đó, chỉ có kền kền và quạ kết thúc những gì còn lại của thân xác này, khỏi phiền người khác hỏa thiêu. Hay ta hãy ngồi thiền trên đường đi của cọp? Như vậy khỏi mất công nó đi tìm ta trên đường về chăng?”

Suy tư như vậy, sư liền vén màn bước ra đứng trước cửa hang và quyết định. Cuối cùng, sư quyết ngồi bên bờ vực thẳm vì trong một khoảnh khắc thất niệm là phải rơi xuống hố sâu để làm mồi cho kền kền và quạ. Sư ngồi nhìn về hướng đồng bằng, quay lưng về phía đường đi của cọp, niệm từ buddho, nghĩ trong tâm rằng một nhoáng lơ đễnh thiếu niệm là phải chết. Suốt quãng thời gian đó, sư quán niệm xem sư sợ rơi xuống vực sâu hơn hay sợ bị cọp ăn thịt hơn, và nhận thức rằng mình sợ rơi xuống vực chết hơn (cái chết kề cận hơn và do vậy sợ hơn) là sợ bị cọp ăn thịt.

Rất lâu sau khi bắt đầu quyết định tự khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc như vậy, tâm sư bỗng nhiên an trụ vào trạng thái thâm sâu, bất lay chuyển, toàn định (appaṇā samādhi) và hoàn toàn không hay biết gì đến những gì xảy ra xung quanh. Không còn lo âu, không còn sợ sệt. Chỉ còn lại cái tâm có thể tự nó vững chắc một cách phi thường.

Trạng thái hoàn toàn nhập định này kéo dài mười hai tiếng đồng hồ, từ mười giờ đêm đến mười giờ sáng hôm sau sư mới xuất thiền. Ngày ấy không cần phải đi trì bình, cũng không cần thọ thực. Thành quả của thời hành thiền quả thật thần diệu hơn là sư có thể mơ tưởng. Không còn dấu vết hay vẻ gì sợ hãi, cũng không còn triệu chứng nào của cơn sốt rét. Sư cảm thấy can đảm và tự tin hơn bao giờ hết. Giờ đây, thành quả của Giáo Pháp rõ ràng công hiệu trên cả phương diện vật chất và tinh thần, vừa chữa bệnh cho thân, vừa chữa bệnh cho tâm. Từ giờ phút đó, sư cảm thấy như mình có thể đi hay ở bất cứ đâu mà chẳng sợ gì. Sư không để ý nhiều đến cọp, ngoại trừ khi nghĩ rằng nếu thật sự có cọp đến thì đó là cơ hội thử nghiệm năng lực ý chí của mình.

Nhận thức rằng những lời dạy của Ngài Acharn quả thật là chân lý vi diệu và vô cùng lợi ích, sư luôn luôn tưởng nhớ đến giáo huấn ấy với lòng tôn sùng kính trọng và tri ân vô hạn. Giờ đây sư đã biết mẹo để rèn luyện và thuần hóa cái tâm của chính mình và luôn luôn sử dụng cái sợ để vượt qua nỗi sợ.

Sư quyết định ở lại hang này lâu hơn và chọn những nơi nguy hiểm nhất làm nơi thích hợp để hành thiền, bao gồm cả miệng hang nơi cọp sống hoặc con đường mòn mà cọp thường qua lại hàng ngày. Khi tọa thiền sư không ngồi trong màn, sợ rằng ở trong đó sư có thể lợi dưỡng trong tình trạng quá tự tin, và không sợ cọp nữa.

Một đêm, sư không thể định tâm vào một trạng thái thâm sâu, dù có cố gắng bao nhiêu hay bao lâu. Rồi sư nghĩ đến con cọp thường ngày lai vãng tại đây, tự hỏi mình bây giờ nó đang ở đâu, vì đáng ra nó phải ở đó để giúp sư hành thiền, là việc không hề khó nếu được khởi sanh đúng cách. Khoảng nửa giờ sau khi ý nghĩ ấy thoáng qua trong tâm thì sư nghe có tiếng động của cọp đến gần phía sau lưng mình. Nghe như vậy sư tự cảnh giác rằng hiểm nguy giờ đây đã đến, và giờ đây chính là lúc phải nhập rút vào trạng thái nhất điểm tâm. Một khi sư hình dung rằng cọp đang nhảy xổ vào chụp cổ mình thì tâm tức khắc rút vào nhất điểm, không còn gì ngoài trạng thái nhất điểm không lay chuyển và thanh bình an lạc không thể tả. Sư nhập vào trạng thái tách biệt của tâm từ khoảng hai giờ đêm đến khoảng mười giờ sáng, và cũng như trước, sư không cảm thấy cần phải đi trì bình hay không cần thọ thực.

Ở đây nên ghi nhận rằng trong khi tâm hoàn toàn rút vào trạng thái gọi là nền tảng của thiền thì thân không còn phản ứng hoặc hay biết gì đến môi trường bên ngoài. Đây cũng là cái mà vị tỳ khưu trong câu chuyện đã được trải nghiệm, vì tâm của sư đột ngột rút vào trạng thái này mỗi khi có điều kiện từ bên ngoài.

Sau khi xuất thiền, sư đi đến nơi đã nghe những tiếng động của “anh bạn” của mình và trông thấy rõ ràng dấu chân của nó chỉ cách chỗ mình ngồi chừng bốn thước. Lạ thay, cọp đi thẳng vào hang mà không tỏ vẻ quan tâm đến “anh bạn” mình ngồi cách đó không xa.

Về sau, vị tỳ khưu ấy kể lại rằng, “Thật rất khó mà rèn luyện tâm nếu không có áp lực hay năng lực mạnh thúc đẩy nó trở nên thuần thục. Một khoảnh khắc hiểm nguy thường trợ giúp tâm rút vào trạng thái an định trong nháy mắt. Vì thế, tôi luôn thích nơi nguy hiểm hơn là hang động hay một khu rừng bình thường. Tốt hơn là tôi đến nơi nào có cọp. Dù sao, tính cách của tôi vẫn còn quá thô kệch, và vì thế những phương pháp dịu hiền không bao giờ đủ mạnh để thuần hóa tâm tôi.

“Còn có những kết quả khác kèm theo,” sư nói tiếp. “Ngoài hạnh phúc và an lạc có được trong cái hang đó, tôi còn giao tiếp được với các vị trời và còn cái gì như là nhìn được tương lai liên quan đến cái chết. Bỗng dưng tôi có thể biết lúc nào thì một người trong làng gần đó chết, và tất cả những gì được biết trước đều chứng tỏ là đúng. Cái hang mà tôi lưu ngụ nằm khoảng tám cây số cách làng gần nhất và mỗi khi có sự hiểu biết lạ thường như vậy xảy đến cho tôi thì sau đó có người làng đến thỉnh tôi đi cầu siêu cho người chết. Dù tôi có từ chối họ vẫn nài nỉ, nói rằng rất hiếm có sư ở vùng rừng đó, và cầu xin tôi mở lòng thương xót họ. Tôi không thể làm gì khác hơn là nhận lời, có nghĩa là phải đi bộ đường xa rồi đi bộ trở về. Dù trong những kỳ nhịn ăn, khi tôi không muốn làm gì ảnh hưởng đến sự cố gắng của mình, những diễn biến tương tự vẫn xảy ra và tôi vẫn phải thực hiện những cuộc băng rừng như vậy.”

“Anh bạn cọp” đã góp phần tăng trưởng năng lực ý chí cho vị tỳ khưu này một cách đắc lực. Chừng hai hay ba đêm thì nó rời hang để đi tìm thức ăn, nhưng rất lạ, nó vẫn không để ý gì đến vị tỳ khưu, mặc dù phải đi ngang qua gần sư mỗi lần đi và mỗi lần về. Từ đó về sau, vị sư ấy luôn chọn bất kỳ nơi nguy hiểm nào mà sư có thể tìm được để hành thiền, và suốt đời sống ở nơi thanh vắng.

Trên đây là câu chuyện một người cương quyết và nhiệt thành, nghiêm chỉnh khép tâm vào kỷ luật và đã chiến thắng nỗi sợ của mình. Lý thú hơn cả là làm thế nào mà sư đã biến con cọp, vốn có thể là kẻ thù đáng sợ nhất của mình, trở thành bạn lành hỗ trợ mình phát triển năng lực ý chí cương quyết.

^^^

149. Tại làng rừng Nong Phue 


Ngài Acharn sống nhiều năm thanh bình an lạc và hạnh phúc tại làng rừng Nong Phue cùng với nhiều vị tỳ khưu dhutaṅga đã vững chắc phát triển tốt đẹp ý chí cương quyết dưới sự hướng dẫn của Ngài. Trong mùa an cư kiết hạ có đến hai mươi vị cùng ở chung, nhưng tất cả đều là những vị phẩm hạnh đoan trang, giới đức nghiêm túc, nên không tạo vấn đề phiền phức cho Ngài. Tất cả mọi người đều quyết chí, một dạ một lòng cùng hướng về một mục tiêu, giống như chân tay hay các bộ phận trong cơ thể.

Vào buổi sáng, hình ảnh đi trì bình trông rất ấn tượng. Các sư đi hàng một, tạo thành một hàng dài. Dân trong làng chuẩn bị sẵn những hàng ghế dài để sau khi thọ bát, các Ngài ngồi lại tụng kinh chúc phúc (anumodanā). Về đến nơi cư ngụ, các Ngài ngồi một hàng dài theo thứ tự tuổi hạ, và cùng thọ thực chung. Khi ăn xong các Ngài rửa bình bát sạch sẽ và lau khô ráo, để bát vào bao và đem cất vào chỗ thích hợp. Khi đâu đó xong xuôi, các Ngài trở về nơi ở của mình ở quanh chùa, bắt đầu thiền hành hay thiền tọa, kéo dài bao lâu tùy nhu cầu của mỗi cá nhân. Đến khoảng bốn giờ chiều, lại thấy các Ngài cùng nhau quét dọn sạch sẽ khu ở, lau chùi chánh điện và hội trường, gánh nước chứa đầy các lu nước uống, nước tắm và cho các nhu cầu khác. Rồi các Ngài trở về cốc mình chuyên cần hành thiền cho đến giờ nghỉ vào buổi đêm.

Vào những đêm có họp, thường mỗi tuần một lần, các Ngài gặp nhau tại hội trường để nghe Ngài Acharn thuyết giảng, nhưng nếu có vị nào gặp khó khăn hay hoài nghi thì được phép đến bạch hỏi riêng bất cứ khi nào Ngài có thì giờ rảnh, như sau giờ ăn hay vào khoảng năm giờ chiều hoặc tám giờ tối.

Thú vị nhất có lẽ là những buổi thảo luận Giáo Pháp riêng vào buổi tối. Có những vẫn đề lạ lùng và những kinh nghiệm đặc biệt do nhiều vị đệ tử từ những nơi xa gần khác nhau đến trình Ngài. Có người trình về việc chứng ngộ Giáo Pháp trong tâm, có người lại nói về những sự kiện bên ngoài như giao tiếp với chúng sanh vô hình. Tất cả đều đầy ấn tượng và khích lệ, và người nghe không bao giờ thấy chán. Đó là những bài học có thể áp dụng được cho người khác khi gặp hoàn cảnh tương tự. Những vị nêu câu hỏi có tâm phát triển ở nhiều mức độ khác nhau, và do đó câu hỏi cũng về các mức độ chứng đắc khác nhau. Các câu hỏi cũng có chi tiết khác nhau do các khuynh hướng khác nhau của người nêu câu hỏi, nhưng tất cả đều vô cùng thú vị và khích lệ, đặc biệt là cho những người đang nỗ lực hướng tới việc chứng đắc đó. Những câu chuyện về đời sống và mức độ chuyên cần của Ngài Acharn hay những chuyện khác mà thỉnh thoảng Ngài thuật lại cho hàng đệ tử cũng thú vị không kém. Có những chuyện vui, những chuyện cảm động và những chuyện đầy kinh ngạc.

Bất luận gì mà người đệ tử thấy, nghe và cảm nhận dần dần được hấp thụ, thấm nhuần và biến đổi người ấy trở nên tốt hơn. Vì biết rõ năng lực thần thông của Ngài, họ cố gắng tự kiểm soát nghiêm ngặt, thao luyện thuần thục niệm và tuệ, và lúc nào cũng chú tâm chuyên cần. Nếu không sẽ bị cảnh cáo và khiển trách nặng nề trong các buổi họp. Mặc dù đã tự quan sát mình nghiêm ngặt như vậy, thỉnh thoảng cũng có những lúc Ngài chỉ ra những lỗi lầm đôi khi khá xấu hổ. Nhưng các vị ấy vui vẻ nhận lỗi và sẵn sàng chấp nhận điều sai lầm của mình như những bài học để tiến bộ trong tương lai.

Sống với Ngài Acharn có thể là một cực hình mà cũng có thể là một phước lành. Điều này tùy thuộc bản thân các vị đệ tử. Đối với người muốn tìm Giáo Pháp thì dĩ nhiên, đó là phước báu lớn lao, còn với người muốn nuôi dưỡng ô nhiễm thì chắc chắn là cực hình cháy bỏng. Những vị có tâm tính thô lỗ sẽ thường bị cảnh cáo và khiển trách nghiêm khắc, nhưng họ thấy điều đó là chấp nhận được nếu thật sự muốn tìm Giáo Pháp, vì chỉ với cách đó họ có thể “hít thở” Giáo Pháp chứ không phải ô nhiễm.

Những câu chuyện về hạnh chuyên cần của Ngài Acharn ở nhiều giai đoạn và địa điểm trong sự phát triển của Ngài cũng làm chư vị đệ tử được “hít thở” Giáo Pháp, đặc biệt say mê và hăng hái, nhưng vào lúc chính họ phải tự nỗ lực tinh tấn thì thông thường các vị ấy cảm thấy thất vọng. Thay vì say mê và hăng hái, họ cảm thấy bị kìm hãm nặng nề và trì kéo trở lại bởi cái gì đó có lực rất mạnh và nó tạo một lực cản ghê gớm mỗi khi họ cố gắng tu tập hay nâng cao. Nếu không dũng mãnh quyết chí tiến đến mục tiêu và nhiệt thành thực hành, tâm chắc chắn trì kéo lôi lại và nhận chìm xuống vũng bùn lầy ô nhiễm, bất luận lúc nào, nơi nào và bất luận ở tuổi nào. Điều này cho thấy Đức Phật và chư vị Thánh Đệ Tử của Ngài đã thành công trong việc phát triển tâm linh và chế ngự sức lôi kéo của ô nhiễm quả thật là những bậc Ứng Cúng, thật sự xứng đáng với lòng tôn sùng kính mộ tối thượng của tất cả Phật tử.

Trong thời hiện đại, người viết muốn thẳng thắn nói lên với tất cả tấm lòng chân thật rằng Ngài Acharn Mun mà tiểu sử được trình bày ở đây, chắc chắn là một trong các vị Thánh Đệ Tử của Đức Phật. Lúc nào Ngài cũng dũng cảm cương quyết và toàn vẹn trong đường lối thực hành, không bao giờ sao lãng trễ nải, kể cả lúc cao tuổi rồi cũng không ngưng chuyên cần tinh tấn hay sống thoải mái. Ví dụ, cách thiền hành của Ngài vẫn vô cùng dẻo dai bền vững, không có vị đệ tử trẻ tuổi nào có thể sánh bằng. Sự hỗ trợ đối với hàng đệ tử một cách vị tha của Ngài, dù là trong buổi giáo huấn thường lệ hay trong những cuộc thảo luận riêng tư, không bao giờ trễ nải. Các yếu tố tạo nên việc nghiêm túc thực hành và dũng cảm cương quyết luôn luôn được nhắc đến trong các thời giảng và trong những lời dạy. Về điểm này người nghe không bao giờ thất vọng, vì lúc nào họ cũng thấy những thời giảng Pháp của Ngài luôn khích lệ họ. Không bao giờ Ngài cho phép giải đãi dung hòa hay hòa hoãn buông lơi trong công cuộc Đi Tìm Chân Lý và Giải Thoát.

^^^

150. Pháp hành khắc khổ để ít nhất là làm ô nhiễm kinh sợ tránh xa 


Chắc chắn là Ngài Acharn đã xác nhận tính chân thực và tính hiện thực của Phật Pháp trong cả ba mức độ: học, hành và thành. Mười ba hạnh đầu đà bị lãng quên nhiều trong thời hiện đại đã được phục hưng ở vùng Tây Bắc, nhất là do Ngài Acharn Sao (thiền sư của Ngài Acharn) và chính Ngài Acharn. Nhờ sáng kiến và nhiệt tâm của hai vị ấy mà pháp hành đầu đà này được chấp nhận và phổ thông thực hành trong thời hiện đại. Hai Ngài thiền sư thực hành cả mười ba hạnh, một số hạnh đều đặn, một số hạnh thì thỉnh thoảng, tùy hoàn cảnh. Có rất nhiều lợi ích phát sanh do pháp hành những hạnh đầu đà này, nhưng quan trọng hơn cả là nó ngăn ngừa sự tuôn trào của ô nhiễm và làm xứng danh vị tỳ khưu là “dhutaṅga bhikkhu.”

Mỗi hạnh trong pháp này, nếu được thành thật và nhiệt tâm thực hành, có tác dụng tăng cường an ninh chống lại tiếng thầm của ô nhiễm. Trong thực tế, không có ô nhiễm nào không kinh sợ pháp này, ngoại trừ chính chúng ta e sợ pháp này sẽ làm cho ta đau khổ. Đồng thời, chúng ta giả vờ quên rằng ô nhiễm cũng có thể làm ta đau khổ không kém những pháp hành dhutaṅga. Đó là lỗ hở rộng lớn để cho ô nhiễm lẻn vào, thỏ thẻ trong tai ta những lý do khác nhau mà nó tạo dựng. Một trong những lý do ấy là các hạnh đầu đà kia đã lỗi thời, và vì vậy phải được gác qua một bên, bởi vì chỉ tạo những khổ đau không cần thiết và không lợi ích. Đó là nguyên nhân chính làm cho pháp hành hạnh đầu đà phần nhiều bị lãng quên và ô nhiễm được rảnh tay hành động. Hậu quả của tình trạng lãng quên này quá hiển nhiên không cần nhắc đến ở đây.

Một vị tỳ khưu dhutaṅga chỉ có chút ít vật sở hữu và được huấn luyện không bám níu vào đó. Như vậy ngài sống và đi đó đây nhẹ nhàng, không mang gánh nặng sở hữu và ô nhiễm. Vài lối thực hành này có thể được người tại gia cư sĩ thỉnh thoảng áp dụng để gặt hái những hậu quả lợi ích giống như một vị tỳ khưu, bởi vì ô nhiễm của cả tỳ khưu và cư sĩ đều giống nhau.

Mỗi hạnh đầu đà có một đức hạnh riêng biệt, thâm sâu và không dễ gì có thể giải thích được và kết quả mang lại cho người thật sự thực hành nó cũng thâm sâu và không dễ gì có thể giải thích được. Đức hạnh đặc thù ấy rất khó diễn đạt thành lời và chỉ tự cá nhân người thực hành chứng nghiệm. Bấy nhiêu đủ nói lên rằng không thể mô tả những lợi ích phát sanh do pháp hành này. Một điều tối quan trọng là những gì biến đổi một người phàm tục trở thành vị Thánh Đệ Tử thông qua cố gắng kiên trì và tinh tấn không thể là gì khác hơn những pháp hành khắc khổ này. Về phương diện này, Ngài Acharn là gương mẫu sáng chói từ đầu đến cuối. Như vậy, một Phật tử thực hành không nên bỏ qua hay xem thường pháp hành này, cho rằng nó không cần thiết và không ích lợi. Theo kinh nghiệm của người viết, vài hạnh trong pháp hành đầu đà quả thật tối cần và người viết muốn chia sẻ quan điểm của mình để cho những ai nuôi dưỡng mục tiêu kháng cự lại ảnh hưởng của ô nhiễm, từ mức độ thô kệch nhất đến vi tế nhất, sẽ thấy hạnh đầu đà vô cùng hữu ích và là đường lối rất hiệu nghiệm để thành tựu mục tiêu của mình.

^^^

151. Cơn bệnh cuối cùng của Ngài Acharn 


Sau khi sống năm năm tại làng Nong Phue, tấm thân bảy mươi chín tuổi của Ngài Acharn bắt đầu tỏ dấu hiệu ốm đau. Lúc ấy vào khoảng tháng 3, mùa nóng năm 2492 PL (1949 DL), một tháng trước tháng tư âm lịch. Đây là ngày đầu tiên mà cơn bệnh khởi sanh, và về sau được biết là cơn bệnh cuối cùng của Ngài. Như vậy, đây là bắt đầu của kết thúc cuối cùng của sự tồn tại vật lý của Ngài, và là bắt đầu của sự mất mát không thể bù đắp được đối với hàng đệ tử của Ngài.

Giai đoạn đầu tiên của cơn bệnh là nhiệt độ lên cao và ho chút ít. Những triệu chứng trên, mặc dù không quá trầm trọng, xuất hiện không theo quy luật gì, làm cho những người quanh Ngài lo ngại. Chính Ngài Acharn đã hiểu rằng đây là cơn bệnh cuối cùng của mình và tuyên bố cho hàng đệ tử rằng không có thuốc nào có thể cứu chữa bệnh này. Kể từ lúc bấy giờ Ngài không quan tâm chút nào đến thuốc men và tỏ ý không bằng lòng khi có người dâng thuốc.

“Đây là cơn bệnh của một ông già không còn sống lâu hơn được nữa”, Ngài nói. “Không tìm được gì để chữa đâu. Bắt đầu đếm lùi rồi. Thầy giống như một cây già cằn cỗi đứng chết khô. Không có nước hay phân bón nào có thể cứu sống vì đã đến lúc chỉ còn đếm giờ và gục xuống đất. Lần này bệnh của thầy cũng giống như vậy. Dùng thuốc để chữa trị có ích gì? Thầy chẳng đã nói với quý vị chớ nên quá tự tin và dể duôi lơ đễnh? Trong lúc thầy còn sống đây quý vị nên tận lực chuyên cần. Nếu còn điều chi hoài nghi hay vấn đề khó khăn, thầy còn có thể giúp trước khi thầy chết. Nếu quý vị nhờ giúp đỡ trong khi thầy còn sống và thầy có thể giúp được gì cho quý vị hay pháp hành của quý vị, quý vị sẽ không phải tiếc về sau.

“Đây là định luật vô thường đã chứng minh qua cơ thể sắp tan rã của thầy. Có nhớ thầy đã nói với quý vị điều này ba năm về trước. Giờ đây, thời điểm đã đến và không còn có thể làm gì để thay đổi. Định luật vô thường, luôn thay đổi và vô ngã mãi mãi diễn tiến bên trong người và thú. Hoạt động của nó sẽ có tác động trên cơ thể của thầy vài tháng nữa. Đó là chân lý bất di bất dịch.”

Từ ngày đó trở đi, bệnh tình của Ngài không suy giảm, thỉnh thoảng ngưng bớt, nhưng không bao giờ khỏi. Không có thuốc nào thật sự hiệu nghiệm. Ngài không bao giờ có ý muốn dùng thuốc, nhưng thường bắt buộc chiều lòng nhiều người khẩn khoản hứa rằng thuốc của họ rất công hiệu. Họ van lơn Ngài xin dùng thử để tiếp tục sống lâu hơn và làm nơi nương tựa cho hàng đệ tử.

“Nhưng giờ đây không có thuốc nào hữu dụng cho thầy,” Ngài nói với họ. “Cái hữu dụng cho thầy là đống củi (để hỏa thiêu).”

Nếu không phải là người có trí tuệ sâu sắc như Ngài, ắt họ không khỏi lo âu và tiếp tục nài nỉ. Vì lòng bi mẫn với họ, Ngài dùng một ít thuốc được dâng.

^^^

152. Dòng người đến thăm Ngài không dứt 


Tin Ngài Acharn lâm trọng bệnh nhanh chóng truyền đi khắp nơi. Mọi người xa gần, thiện tín đệ tử cũng như tỳ khưu và sāmaṇera kéo nhau về làng Nong Phue. Họ đến từ mọi hướng, không quản ngại đường xá xa xôi và phương tiện đi lại khó khăn. Trời mưa hay nắng, họ vẫn kéo nhau đến làng, vốn nằm xa trong vùng rừng núi, khoảng hai mươi lăm hay ba mươi cây số cách đường cái, giữa hai thị trấn Udorn Thani và Sabol Nakhorn. Ngoại trừ những người già phải thuê xe bò, tất cả đều đi bộ từ đường cái lớn.

Ngài Acharn thích sống ẩn dật và không muốn bị quấy rầy, kể cả do những vị tỳ khưu và sāmaṇera ở chung với Ngài. Việc nhiều người như vậy, nhiều người muốn thăm Ngài vì e ngại cho sức khỏe của Ngài, làm cho Ngài mất thoải mái, và cả người khách đến thăm lẫn những người trông nom chăm sóc Ngài đều cảm thấy bất tiện. Trong những trường hợp đặc biệt thì cần phải dung hòa, và như vậy phải thận trọng sàng lọc khách đến thăm. Các vị tỳ khưu và sāmaṇera trông Ngài cũng phải được lựa chọn một cách cẩn trọng.

Theo thói quen, Ngài Acharn rất cẩn thận, không bao giờ xem thường giới luật hay những chi tiết khác. Những vị đến với Ngài phải làm được đúng theo ý Ngài. Mỗi khi có ai hay vị đệ tử nào muốn gặp Ngài, họ được yêu cầu phải đợi ở ngoài để vào trình báo trước với Ngài. Sau khi Ngài cho phép mới được vào. Ngài dạy bảo một lúc và rồi họ được yêu cầu ra về. Đó là trường hợp thông thường. Những vị trước kia là đệ tử thân tín của Ngài thì có ngoại lệ, được phép ở lâu hơn đôi chút để nói chuyện và thảo luận riêng.

Sức khỏe của Ngài giảm sút từ từ nhưng liên tục. Từ ngày Ngài bắt đầu lâm bệnh, không khí tự viện trở nên buồn thảm và tuyệt vọng. Đi đâu cũng thấy những gương mặt buồn rầu. Câu chuyện lúc nào cũng bắt đầu với bệnh tình của Ngài Acharn, và sau khi nói quanh quẩn một lúc cũng trở lại chấm dứt bằng bệnh tình của Ngài. Giáo huấn của Ngài cho chư vị tỳ khưu và sāmaṇera vẫn được đều đặn ban truyền, nhưng ít chi tiết hơn trước. Sau thời thuyết giảng, Ngài vẫn trả lời những câu hỏi do các đệ tử nêu lên liên quan đến kinh nghiệm của họ hay những gì họ chứng ngộ trong lúc hành thiền. Rồi cuộc họp được tuyên bố chấm dứt và mọi người được khuyên nên tiếp tục chuyên cần tại nơi của mình.

Trong buổi họp, khi thuyết giảng hay thảo luận, Ngài không có dấu hiệu gì ốm đau. Giọng nói vẫn sang sảng, rõ ràng và phong thái của Ngài vẫn mạnh mẽ như của người khỏe mạnh, Ngài nhấn mạnh khuyên dạy nên tu tập cương quyết và miên mật. Chỉ sau thời giảng Pháp mới thấy Ngài có dấu hiệu mệt mỏi và do vậy mọi người xin bái từ Ngài.

^^^

153. Thời Pháp vi diệu của Ngài Acharn 


Vào ngày Rằm tháng Ba (Māgha) năm 2492 PL (1949 DL), trước khi lâm bệnh không bao lâu, Ngài giảng một thời Pháp kéo dài bốn tiếng đồng hồ (từ tám giờ tối đến nửa đêm). Thời pháp đêm ấy thật vi diệu dù cho nó rất dài và chắc có thể làm mọi người mệt mỏi, nhưng thính giả, đặc biệt là những vị tỳ khưu dhutaṅga đệ tử của Ngài, vô cùng hoan hỷ say mê. Hoàn toàn đắm chìm trong thời thuyết giảng, họ không để tâm đến thời gian, và thân không cảm thấy mệt mỏi hay tê cứng. Giáo Pháp chứa đựng trong lời giảng hình như thấm nhuần thâm sâu xuyên qua cả Tam Giới. Trong thời Pháp Ngài đề cập đến diễn biến 1.250 vị đệ tử A La Hán tụ hội về hầu Phật mà không có hẹn trước.

“Vào ngày ấy, chính bổn thân Đức Phật đọc tụng Pāṭimokkha (kinh Phát Lồ) giữa toàn thể chư vị Thánh Đệ Tử, tất cả đều đã thành tựu Đạo Quả A La Hán. Không phải như lễ Phát Lồ ngày nay mà kinh Pāṭimokkha được tuyên đọc giữa những người phàm tục. Quả thật đáng thương vì chúng ta, đệ tử của Đức Phật, được gọi là Phật tử, con của Đức Phật dòng Sakya (Thích Ca), nhưng chỉ được gọi như thế theo truyền thống hay thói quen, không phải theo sự thật từ bên trong. Vào thời ấy, đệ tử Phật hết lòng chân thành và do vậy có đủ khả năng chứng ngộ sự thật. Còn chúng ta ngày nay chỉ thích tên tuổi, danh vọng, thích được biết đến và được tán dương, được tâng lên tận trời xanh, mặc dù kỳ thật không có gì bên trong ngoài sự sai lầm làm ta không nhúc nhích được vì sức nặng và sự trì kéo của nó.

“Sự thật và sự trong sạch có thể đến từ đâu được khi mà cái gì ta đã làm hay đang làm chỉ đa phần tăng thêm chứ không suy giảm hay triệt tiêu ô nhiễm và bất thiện pháp? Trong những hoàn cảnh như vậy, không thể hy vọng có thể đọc tụng Pāṭimokkha trong vòng chư vị A La Hán. Chỉ đắp lên mình tấm y vàng không thể làm cho một người trở thành tỳ khưu, hay tên gọi hay sự nổi tiếng có thể là dấu hiệu của đức hạnh hay Giáo Pháp. Cuộc đời của một vị tỳ khưu hay sāmaṇera phải nhiệt thành dấn thân theo Giáo Pháp, không hành ác, chỉ làm điều thiện, và thanh lọc tâm. Đó là ba cột trụ của những lời dạy của Đức Phật.

“Không hành ác phải được hiểu một cách chính xác. Không phải chỉ trong hành động, mà phải không làm điều ác cả trong lời nói, và quan trọng hơn cả là trong suy nghĩ. Một người có thể không hành ác bằng thân hay khẩu, nhưng nếu ngày đêm còn ấp ủ dưỡng nuôi những ý nghĩ bất thiện thì không bao giờ có thể có giới đức và trong sạch. Điều thiện mà họ làm chỉ nông cạn và giả tạo. Như vậy kết quả sẽ đi ngược lại với bề ngoài mà mình thấy: rối loạn và thất vọng bên trong tương đương với suy tư bất thiện đã được ôm ấp dưỡng nuôi. Đó là định luật đạo đức trên phương diện thực hành của người Phật tử.”

Rồi Ngài giải thích về pháp hành thiền, trí tuệ và Giải Thoát theo mọi khía cạnh và ở mọi cấp bậc. Dường như không còn sự thật nào bị giữ lại trong thời pháp. Suốt bốn tiếng đồng hồ người nghe tuyệt đối im lặng, mất hết ý niệm về thời gian và không gian khi họ đắm chìm trong Giáo Pháp được biện giải rõ ràng, tường tận, và đầy ấn tượng. Đến cuối thời pháp Ngài nói rằng về sau Ngài sẽ không bao giờ thuyết một bài Pháp như thế nữa. Những thời pháp của Ngài sau đó không bao giờ rộng và lâu như vậy nữa. Một tháng sau, Ngài bắt đầu lâm trọng bệnh và dần dần kiệt sức cho đến khi viên tịch.

^^^

154. Gương kham nhẫn và buông xả khỏi tình trạng của thân 


Mặc dù cơn bệnh có triệu chứng làm suy yếu dần, Ngài Acharn vẫn đều đặn và nghiêm túc hành trì các hạnh đầu đà. Trì bình khất thực, thọ thực trong bát và chỉ một bữa ăn mỗi ngày. Đến khi quá yếu để đi vòng quanh làng thì Ngài đi nửa đường rồi trở về. Thấy khó khăn của Ngài, các thiện tín đề nghị Ngài không cần đi ra ngoài, họ xin tình nguyện dâng vật thực tới thất của Ngài, nhưng Ngài từ chối. Khi đó, họ xin ít hơn, đem vật thực đến cổng chùa, Ngài sẽ ra sớt bát. Ngài chấp nhận và giải thích rằng ngày giờ nào còn đủ sức ngồi dậy và đi lại thì Ngài còn làm như vậy. Đến khi sức khỏe suy giảm hơn nữa Ngài vẫn chịu khó đến hội trường và thọ bát tại đó. Thậm chí đến khi không thể đi lại được nữa, Ngài vẫn thọ thực trong bát và hài lòng với một bữa mỗi ngày.

Quý vị đệ tử phải chiều theo ý Ngài và lấy làm ngạc nhiên nhận thấy năng lực ý chí của Ngài không bao giờ suy giảm theo tình trạng sức khỏe của cơ thể vật chất. Ngài thật sự là gương sáng về sức dẻo dai chịu đựng, không bao giờ quy hàng ô nhiễm, bất luận tình trạng của cơ thể như thế nào. Nếu chúng ta lâm vào tình trạng tương tự ắt sẽ thấy rất nhiều phiền toái và phức tạp cho ta và cho những người trông nom chăm sóc ta. Quan trọng hơn, chúng ta sẽ không hiểu được ô nhiễm lừa gạt ta đến mức độ nào từ ngày đầu lâm bệnh. Những ai tự xem là đệ tử của Ngài Acharn nên thường xuyên tự nhắc mình về câu chuyện này để có thể không hoàn toàn làm nô lệ cho ô nhiễm của chính mình.

Tình trạng sức khỏe của Ngài càng lúc càng suy giảm và quý vị đệ tử càng thêm lo lắng, canh chừng suốt đêm, mặc dù biết rằng không bao giờ giấu được Ngài. Các vị còn lo chẳng may Ngài cấm làm vậy, vì thức đêm như thế sẽ tạo phiền phức một cách không cần thiết. Các vị sắp xếp chia phiên canh đêm, ba hay bốn vị tỳ khưu và sāmaṇera một lúc, mỗi nhóm ở dưới sàn tịnh thất của Ngài, hai hay ba tiếng đồng hồ, từ tối tới rạng đông. Về sau, các vị xin Ngài cho phép ở ngoài cửa tịnh thất. Ngài bằng lòng và như vậy các vị sắp xếp bốn vị tỳ khưu và sāmaṇera mỗi phiên, hai vị ngồi thiền ngoài ban công của tịnh thất, và hai vị ngồi phía dưới đất. Ngoài những nhóm canh chừng thường xuyên, có những vị tỳ khưu và sāmaṇera khác, ngày và đêm thường lo lắng xuất hiện ở vòng ngoài tịnh thất.

^^^

155. Lệnh của Ngài bảo rời Ngài đi nơi khác 


Sau mùa nhập Hạ càng có đông quý vị đệ tử từ bốn phương kéo nhau về làng Nong Phue để đảnh lễ Ngài. Ngài Acharn ngày càng kiệt sức và một hôm Ngài gọi nhóm đệ tử thân tín và dạy họ phải làm gì với thân Ngài.

“Giờ phút ra đi của thầy đã đến,” Ngài nói. “Thầy đã nói với quý vị vài lần, nhưng giờ đây phải lặp lại rằng cái chết của thầy sẽ không giống như của những người khác.” Nó sẽ liên quan đến nhiều người và do đó đến nhiều con vật khác. Thầy không muốn chết ở đây. Nếu phải chết ở đây ắt có nhiều người đến. Nhiều động vật sẽ phải chết vì gần nơi đây không có chợ (dân làng sẽ phải làm thịt thú vật của mình chỉ để tiếp khách phương xa). Tất cả những con thú ấy phải chết vì thầy. Từ ngày xuất gia thầy không bao giờ nghĩ đến làm tổn thương con vật nào, đừng nói đến sát hại chúng. Thầy luôn luôn rải tâm từ đến chúng, không bao giờ quên hồi hướng phước báu đã tạo đến chúng. Sẽ thật là mỉa mai nếu cái chết của thầy làm cho chúng chết.

“Quý vị đã thấy rằng dù đến bây giờ đã có rất nhiều người lũ lượt kéo đến. Sau khi thầy viên tịch, sẽ còn bao nhiêu người nữa? Quý vị phải rời thầy đi đến thị trấn Sakol Nakhorn. Nơi đó nhiều chợ và sẵn có đầy đủ thức ăn để mua dễ dàng. Cái chết của thầy sẽ không làm chết thêm những con vật khác như nếu còn ở lại và phải chết ở đây. Bản thân thầy thì chết ở đâu cũng được. Thầy đã chứng ngộ sự thật về những nguyên tố cấu thành thân này, nó sẽ tan rã và trở về nơi mà từ đó nó xuất phát, nhưng vì lo ngại cho những con vật ở đây nên thầy nói với các con rằng thầy không được chết ở đây. Hiện tại vẫn còn thì giờ để sắp xếp mọi việc nếu các con nhanh tay, không phải để cứu mạng thầy, mà để cứu mạng nhiều con thú ở đây. Trong các con có ai có ý kiến gì không?”

Chư vị tỳ khưu và các thiện tín im lặng. Không khí nặng nề, buồn bã và thất vọng, không ai nói ra được lời nào. Mọi người đều nhận chân rằng “Muốn mà không được là đau khổ.” Dù ở lại trong làng hay đi thị trấn Sakol Nakhorn, Ngài Acharn cũng phải viên tịch.

Cuối cùng, mọi người thuận chiều theo ý muốn đưa Ngài rời khỏi làng, nhưng rất luyến tiếc. Tất cả dân làng đã cho tất cả mọi người biết họ muốn Ngài Acharn viên tịch tại làng của họ, và họ sẽ sắp xếp mọi việc cần thiết cho lễ hỏa táng Ngài, theo cách tốt nhất có thể, bất kể họ nghèo thế nào. Với lòng chân thành kính mộ thâm sâu, họ không bao giờ chịu để cho bất cứ ai đưa Ngài ra khỏi làng. Nhưng khi được biết những lý do vì sao phải đưa Ngài đi, họ không nói được lời nào, bắt buộc phải nén lòng tuân lệnh. Các vị đệ tử khác của Ngài Acharn vẫn còn nhớ mãi lòng nhiệt thành tôn sùng kính trọng và đức hy sinh cao cả của họ.

^^^

156. Sự ra đi của Ngài Acharn 


Một cái võng đã được chuẩn bị sẵn sàng để đưa Ngài tới thị trấn Sakol Nakhorn. Đây là ngày buồn thảm nhất mà dân làng Nong Phue đã từng trải qua. Họ biết rằng đây là cơ hội cuối cùng mà họ có thể thấy Ngài Acharn của họ. Tất cả những ai có thể đi lại đều đến chứng kiến sự ra đi của Ngài. Lúc Ngài thọ thực xong, vừa bước ra khỏi cửa thì tất cả những khóe mắt của bao nhiêu người chờ đợi đã ướt nhòa. Khi các vị đệ tử đỡ Ngài lên cái võng và đưa đi thì nỗi sầu thảm của đám đông nổi lên như cơn gió lùa qua đồng lúa. Tất cả mọi người trong đó có cả người viết, đều bật khóc, dân làng van lơn cung thỉnh Ngài trở lại với họ, như thể họ đang mất đi một bảo vật vô cùng quý giá mà họ đã tôn sùng kính mộ và quý mến thương yêu trong năm năm trường.

Không ai trong đám đông dân chúng đứng dài theo đường để tiễn đưa Ngài mà không sầu thảm. Chư vị tỳ khưu và sāmaṇera, đàn ông, đàn bà, và trẻ con – đều vô cùng buồn thảm, bùi ngùi nhìn cái võng được đưa qua ra khỏi làng. Từ khoảnh khắc Ngài vừa ra khỏi tự viện, chư vị tỳ khưu và sāmaṇera đệ tử cảm thấy nơi đó đã trở thành hoang vắng, không còn một dấu hiệu của sự sống. Cội cổ thụ mà tàng bóng to lớn đã che mát và giúp họ sống thanh bình an lạc bao nhiêu ngày tháng đã bị cơn lốc Vô Thường ác độc thổi rạp xuống một cách không tiếc thương. Hàng trăm người u buồn thảm não đi theo cái võng, gửi theo Ngài những suy nghĩ từ ái. Dân làng cảm nhận lần này bắt buộc phải vĩnh biệt Ngài từ khi Ngài còn sống, họ biết sự ra đi lần này của Ngài là sự ra đi không bao giờ trở lại.

Từ làng đến quận lỵ Phanna Nikhom gần nhất cũng độ hai mươi bốn cây số, vậy mà mọi người đều im lặng đi bộ đưa Ngài, không kể đường xa và mệt nhọc. Họ biết rằng mỗi bước đi đưa họ đến gần sự ra đi của Ngài một bước. Ngài Acharn vẫn tĩnh lặng một cách lạ thường mặc dù đường xa và tình trạng sức khỏe yếu dần. Ngài trông như Ngài đang ngủ, nhưng thật sự vẫn thức. Khi đến một nơi có bóng cây mát mẻ thì họ xin ngưng lại một lúc để Ngài nghỉ ngơi cho mát. Ngài hỏi “Bây giờ mình ở đâu?” Giọng của Ngài như Ngài không hề ốm chút nào, và điều đó làm tất cả mọi người càng buồn hơn nữa.

Vào lúc bấy giờ người viết nghĩ thầm, “Ngài Acharn sắp rời ta mãi mãi. Tâm từ vô lượng vô biên, vô cùng trong sạch của Ngài sắp không còn nữa.” Nếu có thể chết thay thế cho người khác, người viết sẽ vô cùng hoan hỷ sẵn sàng chết để cho Ngài sống. Tuy vậy, ngọn gió độc ác của Vô Thường không biết thương ai cả.

Cuộc hành trình bắt đầu từ làng Nong Phue vào lúc chín giờ sáng. Đoạn đầu tiên là đưa Ngài đến wat Bahn Phoo, trong quận Phanna Nikom. Sau khi Ngài nghỉ ngơi, chư vị đệ tử dự định đưa Ngài đến thị trấn Sakol Nakhorn.

Đoàn người đến wat Bahn Phoo sau bảy giờ tối. Cuộc hành trình chậm hơn bình thường vì phải đi vòng quanh chân núi. Cũng có một số các ông các bà lớn tuổi đi theo suốt lộ trình. Về đến chùa Ngài được thỉnh nằm trong hội trường để tiện bề chăm sóc và cũng để khách khứa, chư tăng và thiện tín, đến thăm Ngài.

^^^

157. Tại Bahn Phoo khách thăm vô cùng tận 


Tình trạng sức khỏe của Ngài Acharn càng lúc càng suy giảm. Đông đảo chư vị tỳ khưu và cư sĩ từ khắp nơi trong vùng tấp nập đến thăm như nước, từ sáng sớm đến chiều tối và đến tận đêm khuya. Ai cũng muốn được gặp Ngài, người được biết đã là một vị A La Hán. Nếu không có đủ phước báu trong quá khứ, một người không bao giờ có duyên lành được gặp (và nhận ra) một vị A La Hán. Với ý nghĩ ấy trong tâm họ tụ hội rất đông đảo để được nhìn thấy Ngài. Nhìn được Ngài như thế là tạo rất nhiều lợi ích cho họ trong tương lai. Kiếp sống làm người của họ sẽ không hoang phí (vì đã có duyên tận mắt nhìn thấy và đảnh lễ một vị A La Hán còn sống).

Vào sáng hôm sau Ngài thúc giục nên sớm đưa Ngài đến thị trấn Sakol Nakhorn, bảo họ phải nhanh, vì Ngài không muốn viên tịch nơi đây. Một vị Acharn, trước kia là đệ tử của Ngài, bàn nên để Ngài ở lại nghỉ thêm vài hôm. Ngày nào Ngài cũng nhắc họ rời ra thị trấn, nhưng họ vẫn giữ Ngài ở lại để nghỉ.

Ngài nghỉ ở quận Phanna Nokhorn khoảng mươi ngày và nhiều lần mỗi ngày Ngài hối thúc đệ tử rời ra thị trấn. Đôi khi họ nín thinh, có lúc họ trả lời một cách gián tiếp. Cuối cùng Ngài đối diện với họ, nói “Có phải quý vị muốn thầy viên tịch ở đây không? Thầy đã nói với quý vị rằng thầy sẽ đi đến thị trấn!”

Vào đêm thứ mười Ngài từ chối không ngủ, kêu họ đến gấp và bảo rằng mình không thể còn sống lâu hơn nữa, phải rời ra thị trấn Sakol Nakhorn trong đêm. Ngài bảo họ đỡ Ngài ngồi dậy trong tư thế thiền tọa, mặt hướng về phía thị trấn.

Sau khi xuất thiền, Ngài bảo họ phải gấp rút. Các vị sư cao hạ được gọi đến và họ nói rằng sáng hôm sau mọi việc sẽ được chuẩn bị sẵn sàng, vì xe ô tô chưa đến kịp trong đêm. Ngài nhấn mạnh rằng họ phải làm mọi việc càng sớm càng tốt vì Ngài không còn sống lâu hơn được nữa.

“Thầy không muốn kéo dài hơn nữa cái thân đau khổ này”, Ngài nói. “Tiếp tục kéo dài sự sống của nó không lợi ích gì. Thầy đã nói hết mọi việc. Tại sao quý vị còn muốn kéo dài thêm đau khổ của nó làm gì? Cái thân này đâu còn lợi ích gì khi nó ngưng sống? Nếu hiện giờ quý vị không vâng lời thầy thì còn hy vọng gì sau khi thầy ra đi? Quý vị có thể tìm được Sự Thật nào để bảo trì Giáo Pháp sau khi thầy qua đời?”

Nói như thế rồi Ngài thức luôn, không ngủ trọn đêm mặc dù tình trạng sức khỏe càng thêm suy giảm. Có lẽ Ngài nghĩ rằng Ngài có thể sẽ không tỉnh dậy nữa nếu Ngài cho phép mình ngủ. Tuy nhiên đó chỉ là phỏng đoán của chúng tôi, hoàn toàn có thể sai lầm.

^^^

158. Đến Sakol Nakhorn, nơi Ngài Acharn hoàn toàn viên tịch 


Xe theo xa lộ Sakol Nakhorn đến chùa vào lúc bảy giờ. Theo xe có bà cụ Noon Chuvānon (một tín nữ thân tín của Ngài) đến cung thỉnh Ngài về. Ngài hỏi có đủ xe cho các vị tỳ khưu và samāṇera muốn đi không. Cụ bà bạch rằng sẽ trở lại để rước bao nhiêu vị tỳ khưu và samāṇera muốn đi cũng được. Sau khi Ngài thọ thực, người ta trích một mũi thuốc giúp Ngài nghỉ ngơi trong khi đi đường vì vào lúc đấy đường xá chưa tráng nhựa, lồi lõm, ghập ghềnh, đi xe rất mệt nhọc. Ngài được cung thỉnh nằm trên võng để khiêng từ chùa tới đầu kia của cánh đồng để tới chiếc xe đang đợi Ngài. Ngài có vẻ ngủ mười phút sau khi người ta trích thuốc. Xe đến Sakol Nakhorn lúc trưa, khoảng mười hai giờ.

Ngài được khiêng từ xe đến tịnh thất (kuti) trong chùa Wat Suddhāvas và ngủ luôn đến nửa đêm thì tỉnh dậy. Vào khoảng một giờ khuya, dấu hiệu ra đi của Ngài càng rõ ràng hơn đối với những người đang chăm nom. Xem hình như Ngài xác nhận với hàng đệ tử tại sao thường hối thúc họ về thành phố và cho họ biết rằng những đau khổ mà thân phải chịu trước khi ngọn lửa của đời sống bị cơn gió đặc tướng Vô Thường của tất cả các pháp hữu vi thổi tắt. Quả thật là cơ hội tốt cho những người hiện diện có thể rút ra bài học Giáo Pháp.

Đêm ấy yên tĩnh, yên tĩnh một cách lạ thường, khi Ngài Acharn phát lộ cho chư vị đệ tử chân lý của Phật ngôn “bhārā have pañcakhandhā”: ngũ uẩn thực sự là một gánh nặng – một gánh nặng mà bậc thiện trí rất hoan hỷ đặt xuống. Ngài Chao Khun Dhammacetiya của chùa Wat Bodhi Somphorn và chư vị tỳ khưu đệ tử của Ngài Acharn sớm thấy đoàn người tấp nập hội tụ quanh nơi Ngài Acharn nằm. Mọi người đều im lặng, nhưng tất cả đều đang chao động, nghĩ đến sự ra đi của Ngài Acharn, chắc chắn vào một lúc nào đó trong đêm nay. Các vị ngồi đấy theo ba hàng, hàng đầu, gần nhất có ngài Chao Khun Dhammacetiya, hàng nhì có những vị Acharn đệ tử và hàng ba là các vị tỳ khưu và samāṇera. Tất cả đều nhìn về phía Ngài Acharn nằm, âu sầu và thất vọng, lệ nhòa cả mắt.

^^^

159. Hoàn toàn viên tịch 


Ngài Acharn nằm theo tư thế sư tử (nghiêng về phía tay mặt), nhưng một vị đệ tử sợ nằm như thế Ngài mệt nên từ từ rút lần cái gối kê lưng, để Ngài nằm ngửa. Hình như Ngài Acharn ý thức được điều này và cố gắng nằm nghiêng mình trở lại về phía tay phải như trước, nhưng rõ ràng quá yếu để làm điều đó. Một vị Acharn thấy vậy nhè nhẹ đẩy cái gối vào lưng một chút để phụ giúp Ngài, nhưng không dám đẩy nhiều, sợ làm cho Ngài Acharn quá mệt. Như vậy, tư thế cuối cùng của Ngài Acharn là hơi nghiêng bên mặt, giữa thế nghiêng hẳn mình và thế nằm ngửa, vì không ai dám làm gì nữa, sợ quấy rầy Ngài. Ngài đang chìm nhanh và tất cả chư vị tỳ khưu đệ tử và tín đồ của Ngài hiện diện lúc bấy giờ đều tuyệt vọng nhìn. Hơi thở Ngài yếu dần đến lúc ngưng hẳn. Không ai chắc chắn biết rõ Ngài tịch lúc mấy giờ vì không có cử động nào của thân cho thấy chính xác giây phút ra đi. Một lúc sau đó, Ngài Chao Khun Dhammacetiya tuyên bố: “Ngài Acharn đã viên tịch, có phải vậy không?” và nhìn đồng hồ. Lúc ấy 2:23 giờ khuya, và được xem là giờ viên tịch, vì giờ phút chính xác không xác định được.

Khi tin Ngài Acharn viên tịch được loan truyền trong nhóm đệ tử tỳ khưu và thiện tín có mặt tại chùa, tất cả mọi người đều âu sầu, thất vọng, mặc dù ai nấy đều đã chuẩn bị sẵn sàng đón nhận tin buồn. Ngài Acharn vĩnh viễn ra đi, hoàn toàn thoát khỏi mọi trói buộc trần gian nhưng họ thì vẫn còn đau khổ trong cảnh giới Vô Thường của vòng quay luân hồi .

^^^

160. Bản chất tâm phàm phu 


Chư tăng đồng ý rằng nhục thể của Ngài Acharn hiện giờ nên để lại đây, ít nhất là trong đêm nay. Sáng hôm sau, lễ hỏa táng sẽ được sắp xếp. Chư vị tỳ khưu đệ tử của Ngài thì có vài vị về cốc, vài vị ở lại nơi Ngài Acharn viên tịch. Toàn khu quanh kuti (tịnh thất) của Ngài đều có đèn thắp sáng nhưng đối với các chư vị đệ tử dường như tối om. Họ không biết giờ đây phải làm gì và phải đi đâu để thực hành. Vài vị đã ngất xỉu. Đối với các vị ấy, mất Ngài Acharn là mất tất cả. Ngọn đèn hải đăng rọi sáng con đường thực hành đã tắt hẳn. Bao nhiêu hơi ấm và trí tuệ phát ra từ ánh sáng từ bi ấy cũng tiêu tan cùng với hy vọng và sự sống nương tựa vào đó.

Điều này dĩ nhiên không có nghĩa là họ đã quên Tam Bảo – Đức Phật, Đức Pháp và Đức Tăng – nhưng tâm phàm phu có khuynh hướng bám vào cái gì gần gũi và rõ ràng nhất và xem đó là nhịp cầu để nối liền đến cái gì xa xôi và ít rõ ràng hơn, mặc dù ảnh hưởng thâm sâu hơn. Sự phục vụ và trí tuệ của Ngài Acharn của họ đã được thấy trong nhiều năm. Giáo huấn của Ngài, họ đều đặn được nghe, khả năng của Ngài để giải quyết những thắc mắc và những vấn đề khó khăn đều được công nhận, bản thân Ngài được tôn sùng kính mộ thâm sâu và hào quang từ bi của Ngài đã được cảm nhận và in sâu vào tâm khảm.

Phải ít lâu sau khi Ngài Acharn viên tịch, người viết mới nhận thức được rằng Ngài, cũng như Đức Phật và chư vị đệ tử của Đức Phật đã không còn và ta không còn nhu cầu phải mãi mãi và liên tục tưởng nhớ theo đường lối người đời, trong thế gian phàm tục. Điều đáng quan tâm là cái tâm của những người khóc than sầu thảm về sự viên tịch của Ngài. Để cho họ bị cơn sầu hoàn toàn ngự trị ắt có hại nhiều hơn có lợi. Ngài Acharn không bao giờ dạy ai nên ôm ấp dưỡng nuôi những loại tư tưởng buồn thảm như vậy. Những loại tư tưởng như vậy dĩ nhiên không phải là bất thiện, tuy nhiên không thích hợp với người đã đắp y mang bát, nhất là những người có nguyện vọng thành tựu Giác Ngộ Cuối Cùng. Đức Phật có lần dạy: “Những người thấy Giáo Pháp là thấy Như Lai, những người thấy Như Lai là thấy Giáo Pháp.” Một cái tâm mà bị sầu thảm thống trị sẽ không thể thấy được Giáo Pháp. Nếu phải chết bằng cách sống theo pháp hành này sẽ tốt hơn là chết với tâm sầu thảm.

Qua ngày hôm sau, tin ngài Acharn viên tịch loan truyền cùng khắp thị trấn Sakol Nakhorn. Quý vị sư cao niên và nhân viên chính quyền trong thị trấn đến cúng, lễ bái nhục thể và cùng nhau sắp xếp chuẩn bị lễ hỏa táng. Mọi người đồng ý rằng cuộc lễ phải xứng đáng với địa vị của một bậc Thiền sư khả kính nhất, danh tiếng lừng vang khắp các miền của Thái Lan. Tin ngài viên tịch đã được giới truyền thông loan truyền khắp nơi trong xứ để cho những vị đệ tử sống những nơi khác nhau có thể hay biết và nếu họ muốn, có thể trở về kịp dự lễ hỏa táng, dự định vào ngày rằm tháng Ba 2493 PL (1950 DL). Đông đảo người đến Sakol Nakhorn để đảnh lễ nhục thể Ngài Acharn cho đến ngày hỏa thiêu.

^^^

161. Người nghèo nhất và người giàu nhất 


Vào lúc Ngài về già, có rất nhiều người đến dâng cúng tứ vật dụng nhưng Ngài không thể sử dụng tất cả. Bất luận nơi nào Ngài lưu ngụ, hoặc trong rừng sâu hoang vắng hay ở thành thị, xóm làng, luôn luôn có rất nhiều thiện tín chẳng kể đường xá khó khăn đến dâng Ngài vật thực và các vật dụng cần thiết. Ngài Acharn hy sinh cũng không ít hơn các thí chủ, luôn cho tất cả những gì được người ta dâng đến. Trong những ngày khởi đầu tu tập thì không ai thiếu thốn bằng Ngài, nhưng về sau thì không ai giàu có bằng Ngài. Người ta dâng đến bao nhiêu thì Ngài cho ra bấy nhiêu, có lẽ Ngài cho ra còn nhiều hơn. Những gì vừa thọ nhận, Ngài sớm sủa cho ra. Bản tính Ngài là muốn giúp đỡ mọi người khác và thường không cho người ta biết ý định này. Thí dụ như Ngài muốn giúp xây dựng một ngôi chùa thì Ngài chỉ đến đó ở ít lâu. Tất cả những gì được dâng cúng đến Ngài, Ngài sẽ cúng hết cho chùa đó. Lúc bốn giờ chiều sau ngày viên tịch, nhiều vị tỳ khưu, samāṇera và thiện tín tiến hành tắm rửa nhục thể, rồi bao trùm trong một chiếc khăn liệm trắng bên ngoài tấm y và đặt Ngài vào trong một chiếc quan tài đặc biệt, một bên là kính để cho những ai không kịp gặp Ngài lúc còn sống có thể nhìn xuyên qua. Mỗi đêm đều có những thời thuyết pháp và những nghi lễ khác để tưởng niệm công đức Ngài.

^^^

162. Người dân tuyệt vời của Sakol Nakhorn 


Trong suốt ba tháng trường trước lễ hỏa táng Ngài Acharn, dân cư trong thành phố Sakol Nakhorn đã chứng tỏ tinh thần hợp tác và hy sinh đáng được kính phục, ngợi khen. Nhân viên Chính phủ, thương gia và dân thường, tất cả đều một lòng một dạ giúp đỡ khách phương xa bằng mọi cách. Dường như họ quên hết tình trạng mệt mỏi và không nghĩ đến chi phí, để đón mừng và tiếp khách về nhà. Người viết đã chứng kiến những cuộc biểu lộ tình thân ái hợp tác và lòng quảng đại và có thể chân thành nói rằng mình chưa bao giờ thấy tinh thần hòa hợp hơn trong một lễ hỏa táng như vậy.

^^^

163. Lễ hỏa táng 


Ngày hỏa táng đã đến, số người hội tụ tại Wat Suddhāvas càng tăng trưởng đông đảo. Vào ngày hỏa táng, số tham dự độ vài chục ngàn người. Quán và lều đủ dạng và đủ cỡ lớn nhỏ đã được dựng lên khắp khu rừng, thức ăn và nước uống được phục vụ miễn phí cho tất cả. Dù và lọng trắng mọc lên như nấm trong khu rừng bao quanh Wat Suddhāvas để che mưa nắng cho các vị tỳ khưu khách, đến từ khắp nơi, một cảnh tượng trước đây không bao giờ mơ tưởng đến. Có hơn tám trăm vị tỳ khưu và samāṇera trong chùa Wat Suddhavas và rất nhiều những vị khác lưu ngụ tại các chùa lân cận, có lẽ tất cả trên ngàn người. Với số người đông đảo trong một khu rừng nhỏ bé như thế, tiếng nói ồn ào, huyên náo vang động, không còn nghe được gì rõ ràng, ngoại trừ tiếng vang của máy phát thanh, mô tả từng chi tiết diễn tiến của cuộc lễ. Tuyệt đối không có bất luận trò chơi giải trí nào, vì đây là cơ hội cuối cùng để tưởng nhớ một vị Thiền Sư, không phải để vui chơi hay giải trí.

Những vật dụng mà thiện tín dâng cúng chất cao như một hòn núi nhỏ. Hàng trăm bao gạo, hàng trăm loại vật thực khác và số y dâng đến chư Tăng có thể chất đầy một nhà máy sản xuất vải. Không thể tưởng tượng nổi lòng rộng lượng và vị tha của người Thái khi dâng cúng để tưởng niệm ân đức Ngài Acharn của họ. Họ cũng rộng rãi không kém khi giúp đỡ người khác. Với diện tích nhỏ bé như xứ Thái, lòng quảng đại của người Thái không phải dân tộc của quốc gia to lớn nào cũng sánh bằng. Đó là ảnh hưởng của Phật giáo, dạy họ rộng lượng, từ ái, khoan hồng và sẵn sàng đưa cánh tay hỗ trợ khi cần đến và mỗi khi có thể làm được. Những đức độ khoan dung quảng đại ấy rõ ràng đã được chứng tỏ trong buổi lễ hỏa táng Ngài Phra Acharn Mun Bhūridatta.

Không có gì thiếu. Những nồi cơm to, những chảo cơm và nhiều loại thức ăn khác nhau, trông thấy mà kinh hồn vì kích cỡ của chúng, toàn loại cỡ to nhất. Mỗi cái chảo to đến độ sức một người không thể nhấc nổi chứ đừng nói đến khiêng đi. Phải cần đến hai hay ba người để di chuyển một cái chảo từ nơi này đến nơi khác.

Bởi số đông bất thường, chư vị tỳ khưu và samāṇera phải chung họp từng nhóm ba bốn chục, năm sáu chục vị để thọ thực, trong cốc, trong lều hoặc nơi trống trải ngoài rừng hay chỗ nào khác. Mặc dù chư Tăng rất đông, nhưng rất tiện cho quý vị thiện tín sắp xếp để dâng vật thực đầy đủ, vì phần lớn trong số họ, khoảng chín mươi phần trăm là tỳ khưu dhutaṅga, chỉ thọ thực trong bình bát, ngày một lần, nên không cần phải bận rộn nhiều với chén đĩa và mâm. Chỉ dâng vật thực trong nồi và xoong chảo. Các ngài sẽ đặt chung hết các loại vật thực vào trong bình bát, kể cả đồ tráng miệng. Mười phần trăm còn lại là các vị tỳ khưu cao hạ hay các vị cao niên trong các Ban Quản lý và các đệ tử của mình (phải cần đầy đủ chén đĩa và thường ăn hai lần một ngày).

Trong suốt thời gian ba tháng ròng này, không hề có vi phạm pháp luật, trộm cắp, gây gổ hay say sưa. Những ai có lỡ mất vật quý giá thì thông báo cho chùa hay biết, nhân viên trong chùa kêu gọi lên máy phát thanh và sớm thu hồi.

Lễ hỏa táng kéo dài ba đêm và bốn ngày, bắt đầu từ mười một tháng ba (Magha) đến nửa đêm ngày mười ba, đúng ngày thật sự hỏa thiêu. Đến ngày hôm sau lấy tro.

^^^

164. Phép lạ 


Giàn hỏa để hỏa táng Ngài Acharn được dựng lên và trang hoàng rất đẹp, tại nơi mà hiện nay là hội trường của Wat Suddhavas. Vào ngày mười một, trước khi di chuyển nhục thể của Ngài đến giàn hỏa táng, tất cả chư Tỳ khưu và thiện tín tụ hội tụng kinh sám hối, xin Ngài tha thứ những lỗi lầm mà họ đã vô ý hoặc cố ý phạm đến. Không khí rất nặng nề, vô cùng buồn thảm và sớm đưa đến những lời than vãn, những giọt lệ tuôn và tiếng khóc nức nở của phần đông. Tất cả mọi người mến thương và cảm phục, hồi nhớ những phẩm hạnh của Ngài và những công đức Ngài đã giúp họ. Ngài Acharn đã bỏ lại nhục thể, đã thành tựu giải thoát và trạng thái Châu Toàn, vượt ra khỏi vòng Tái-Sanh và Tái-Tử. Ngài sẽ không bao giờ còn trở lại “cõi trần đầy thảm lệ” này. Cũng nhờ giáo huấn từ bi của Ngài mà họ biết việc thiện và ác. Họ không còn bao giờ lắng nghe Ngài giảng Giáo Pháp và khi nghĩ đến đó, họ cảm thấy vô cùng sầu muộn. Những dòng lệ tuôn trào trên mặt họ là dấu hiệu của bao nhiêu lòng kỉnh mộ và sùng bái thâm sâu của họ.

Giờ hỏa táng dự định là nửa đêm nhưng từ sớm, đông đảo người đã quy tụ về chùa, tập trung quanh giàn hỏa thiêu và nhẫn nại chờ, tất cả mọi người đều muốn tận mắt nhìn để tưởng nhớ suốt những ngày còn lại. Tuy nhiên, vào lúc đúng giờ, một diễn biến huyền diệu phi thường xảy ra, nếu người viết được phép, xin gọi đó là phép lạ. Trời mùa hè đang trong sáng, bỗng có đám mây nhỏ bay thoáng qua, đủ để che lấp vùng hành lễ. Đúng khi vừa châm lửa và ngọn lửa vừa trùm lên quan tài thì đột nhiên cơn mưa phùn thoáng rơi, cả vùng trở nên mát mẻ. Độ mười lăm phút mây tan, và trời trở lại trong sáng như thường. Hàng ngàn người hiện diện đã chứng kiến hiện tượng này và đến nay tất cả mọi người vẫn còn nhớ.

^^^

165. Gỗ trầm dùng để hỏa táng - Phân phát tro 


Giàn hỏa được dựng lên, không phải bằng gỗ thường. Một vị thiện tín của Ngài Acharn đặt mua từ Lào, đủ gỗ trầm để dùng trong cuộc lễ, và thêm vào đó những cây nhang, trầm hương nghi ngút. Tuy nhiên, hiệu quả vẫn không có gì khác hơn là thiêu bằng gỗ thường - xác chết vẫn bị ngọn lửa thiêu đốt rụi.

Sáng ngày hôm sau, lúc chín giờ, tro của Ngài Acharn được thu lượm và phân phối cho những vị tỳ khưu đại diện các tu viện khác nhau đến dự lễ hỏa táng để các ngài đem về tôn trí vào những nơi được xây dựng đặc biệt. Quý vị thiện tín các thành phố khác nhau cũng thọ lãnh một phần tro. Vừa khi cuộc phân phối chánh thức vừa xong, những người khác hiện diện trong buổi lễ vội vã chạy đến giàn thiêu góp nhặt than vụn và tro tàn còn lại. Không còn một hạt bụi ở đâu hết cả. Tất cả đều hoan hỷ với “của báu” mà họ vừa được và mọi người đều xem đó là bảo vật vô giá, thỉnh về thờ với nụ cười hân hoan.

Cuộc lễ hoàn tất, tro đã phân phát, đã đến lúc ra về. Nhưng trước khi đi, mọi người đến nơi hỏa thiêu Ngài, đảnh lễ ba lần. Chỉ còn nơi đó là dấu hiệu hiện hữu của Ngài. Họ ngồi im lặng một lúc rồi mới đứng dậy, mặt nhòa nước mắt. Cuộc bái từ cuối cùng với lệ tuôn, đầy lòng kính mộ và tri ân, kéo dài nhiều tiếng đồng hồ vì nhóm này vừa đi thì có nhóm khác đến, hết nhóm này đến nhóm khác. Việc này, người viết chứng kiến đầy đủ.

^^^

166. Tâm toàn quyền điều khiển việc tiến bộ hay thụt lùi 


Nhìn sâu vào nguyên nhân đã thúc đẩy hàng ngàn dân chúng đến tham dự cuộc lễ hỏa táng Ngài Acharn, chúng ta sẽ thấy rằng không có gì ngoài tâm. Tâm của Ngài Acharn đủ trong sạch và thánh thiện để thu hút họ đến với Ngài, và tâm của họ đã phát triển đầy đủ để cảm nhận sức hút từ ái của Ngài. Họ nhận thức rằng mình không thể trong sạch như Ngài nhưng dù sao họ cũng đủ thành thật để hiểu biết phải hướng về đâu để được giúp đỡ, được dạy bảo và dẫn dắt theo đúng con đường Chánh Đạo. Bằng cách đó, kiếp sống làm người của họ không hoang phí, họ không phải thẹn thùng tái sanh vào một cảnh giới thấp hơn cảnh giới người. Trong những cảnh giới vô cùng đau khổ ấy - thú, địa ngục, ngạ quỷ và atula – thời gian đau khổ kéo dài hình như vô cùng tận và vô vọng. Với nhiều kiếp sống nữa cái tâm hình như phải chìm đắm thêm sâu trong tình trạng bi đát.

Tất cả những quả ấy – “tiến lên” hạnh phúc của cảnh trời hay “thụt lùi” xuống những cảnh giới vô cùng đau khổ – đều do tâm tạo. Nếu tâm thọ hưởng duyên lành hay những ảnh hưởng trong sạch thì phát triển tốt đẹp, tăng trưởng và hạnh phúc. Nếu tâm là nạn nhân của các ác pháp hay của những thu hút bất thiện, ắt phải sa đọa vào khổ cảnh hay tuyệt vọng. Trong nhiều trường hợp, những hậu quả ấy liên tục móc nối nhau tiến bộ tạo thêm tiến bộ và khổ cực đẻ thêm khổ cực trong cả hiện tại và vị lai.

Ngài Acharn là cội nguồn phát sanh thiện nghiệp, tạo hạnh phúc và an toàn cho tất cả những ai nhận thức được những Phẩm Hạnh Thánh Thiện của Ngài và do đó được thu hút đến Ngài. Ngài có đủ phước lành của mọi mức độ trong sạch, từ thấp đến mức tối cao nhờ đó mà thành tựu Đại Niết Bàn, tình trạng viên mãn tịch diệt của người đã hoàn toàn tận diệt mọi ô nhiễm.

Nhiều người nói rằng Ngài Acharn đã nhập Đại Niết Bàn, và chính người viết không tìm được gì để nói ngược lại. Ngài biết rõ danh dự lớn lao này mà người ta dành cho Ngài là dấu hiệu sùng kính cao cả nhất của dân chúng. Với nhiều năm kinh nghiệm sống tu luyện dưới sự hướng dẫn của Ngài, không thấy có gì không đúng vậy. Giáo Pháp trong những lời dậy của Ngài cho thấy tâm Ngài là Giáo Pháp. Một cái tâm như thế vô cùng hiếm hoi và cách biệt rất xa tâm của người thế gian. Chỉ xuyên qua quá trình tự phát triển, người thế gian mới có thể phát triển và biến đổi tâm mình để thành tựu mức độ cao siêu ấy. Tâm như thế là tâm bất diệt, đã vượt qua khỏi mọi giới hạn thời gian. Tâm như thế cao siêu hơn tất cả, vì được tạo duyên bởi thiện pháp. Nếu bị hướng dẫn sai lầm, do trạng thái bất thanh tịnh tạo duyên, nó có thể là lực kéo mạnh nhất trì kéo xuống nơi vực sâu của thế gian.

^^^

167. Thời gian chán nản và cảm thấy cô đơn 


Sau lễ hỏa táng, chư vị tỳ khưu và samāṇera đệ tử của Ngài Acharn cảm thấy mình bấn loạn và tiêu tan hy vọng, cảm thấy như bị mất gốc, không biết phải đi đâu và phải làm gì. Họ giống như những đứa trẻ mồ côi bị lạc trong đêm tối. Trong một giai đoạn, không có lực kết nối họ lại với nhau và họ cảm thấy cô đơn. Một vị Acharn tài đức quả thật tối quan trọng. Thiếu mặt Ngài, nhóm đệ tử, nhỏ hay lớn, cảm thấy không an toàn và thiếu sức sống, kém sinh lực. Phải mất một thời gian dài lâu, chư vị đệ tử mới có thể gom nhau lại và lấy lại năng lực ý chí. Đối với họ, cái chết của Ngài Acharn là một biến đổi trọng đại. Mất đi một vị lãnh đạo, dù trong gia đình, xã hội, trong cơ quan Chính phủ, hay trong Giáo hội Tăng già, lúc nào cũng có ảnh hưởng sâu đậm đến cấp dưới, dù chỉ một thời gian. Tuy nhiên, nếu những vị cấp dưới, hay những vị đệ tử có đủ khả năng tiếp tục việc làm và đảm trách nhiệm vụ, nhóm sẽ không bị nhiều rối loạn. Dù muốn dù không, ta phải chuẩn bị tốt để đối đầu với những trường hợp không thể tránh.

Chư vị đệ tử của Ngài Acharn cũng như các vị thiện tín đều cảm thấy rỗng không và tuyệt vọng trong một giai đoạn. Ngài Acharn đối với họ như cái móng vững chắc của một tòa nhà. Nếu không có móng, tất cả kết cấu bên trên, mặc dù đẹp đẽ bao nhiêu, vẫn không bền vững, giống như cây không gốc rễ. Người viết cảm nhận thâm sâu điều này và đã nhận thức được tầm quan trọng về việc các vị đệ tử phải hết sức tận lực chuyên cần như thế nào khi thiền sư còn tại tiền. Không làm được như vậy đưa đến hậu quả là sự thụt lùi khi thiền sư ra đi.

Tâm của chính người viết cũng bị hết đợt này đến đợt khác những cơn sóng buồn thảm tràn ngập. “Nơi nương tựa duy nhất của tôi đã ra đi” người viết cảm nhận như vậy. “Từ đây còn ai mà tôi có thể ngưỡng lên để nương nhờ? Ai là người mà tôi có thể tìm đến để được giúp đỡ? Ngài Acharn đã vĩnh viễn ra đi, để lại nơi tôi một xác chết có hơi thở. Giờ đây tôi là người bơ vơ, không được giúp đỡ! Đây có thể là điểm chấm hết của tất cả. Tôi đang ở trong giai đoạn sống chết trong cuộc chiến giữa ô nhiễm và Giáo Pháp. Giờ đây tất cả mọi hy vọng tiến bộ đều tan biến.”

Người Phật tử thực hành lúc nào cũng phải tự nhắc mình không nên quá tự tin trong khi vị thiền sư còn đó, bởi vì chỉ khi Ngài còn sống, mình mới có thể hưởng nhờ giáo huấn và những lời khuyên dạy để thành tựu những gì có thể thành tựu trong Phật Giáo. Họ có thể trở thành triệu phú trong Giáo Pháp, thành tựu những tầng Đạo, Quả và Niết Bàn hoặc trở nên nghèo nàn, thiếu thốn vì đã vứt bỏ đi cơ hội ngàn vàng, sống cơ cực nghèo đói giữa những kho tàng vô giá mà lẽ ra là của mình.

^^^

168. Tro của Ngài Acharn trở thành xá lợi 


Những vị có được tro của Ngài Acharn sau ngày hỏa táng kính cẩn thỉnh về tôn thờ ở nhà, xem như bảo vật đáng kính mộ nhất. Trong bốn năm sau ngày hỏa táng, không có gì lạ xảy ra.

Rồi một ngày nọ, bà Van Khamanāmool đi đến thị trấn Sakol Nakhorn, nơi Ngài viên tịch và được hỏa táng, để dâng y Chư Tăng ra hạ, tạo phước. Trong dịp này, bà được ngài trụ trì Wat Suddhāvās cho thỉnh một miếng xương ở một phần trên nhục thể Ngài Acharn. Bà đem về để trong cái lọ đã có đựng tro mà bà được thỉnh về trước đó, sau khi hỏa táng Ngài. Vừa mở nắp cái lọ, bà kinh ngạc sửng sốt bởi vì nhúm tro mà bà đã thỉnh được trước kia tất cả đã trở thành xá lợi (những hột láng lẩy bóng ngời, hình như hạt cát, giống như xá lợi Phật và các vị Alahán đệ tử thời xưa). Bà có một cái lọ khác cũng đựng tro của Ngài mà bà giữ trong một khách sạn do bà làm chủ. Bà liền đi đến đó ngay và thấy rằng tro này cũng trở thành xá lợi. Cả hai nơi có tất cả ba trăm bốn mươi tư viên. Chỉ những hột tro mịn giữ nguyên hình dạng tro nhưng rồi về sau cũng biến thành xá lợi. Đó là trường hợp đầu tiên được biết tro của Ngài Acharn đã trở thành xá lợi.

Tin lạ thường này được truyền xa và lan rộng. Nhiều người tấp nập kéo đến nhà bà xem điều mà họ gọi là “phép lạ” này và xin về vài viên. Bà Van Khamanamool bản tính quảng đại rộng rãi, vui vẻ tặng cho những người muốn xin về thờ. Chính người viết cũng được tặng hai lần, lần đầu năm viên và lần thứ nhì hai viên. Khi người viết không thể không thuật lại duyên lành được tặng xá lợi thì mọi người yêu cầu cho chiêm bái. Càng đưa xá lợi ra chiêm bái nhiều thì số lượng càng giảm đi. Trong số những người chiêm bái, có những người không đừng được việc xin, và người viết không thể không cho từng viên từng viên một, đến nay chẳng còn viên nào. Người viết rất hài lòng khi tặng đi mặc dù điều đó có nghĩa là còn ít đi. Bà Van Khamanāmool cũng vậy, tặng đi hầu hết xá lợi bà có.

Càng ngày càng có người tường thuật lại rằng tro của Ngài Acharn được cho đã trở thành xá lợi. Chí đến ngày nay vẫn còn có những trường hợp như vậy được tường thuật, nhưng phần lớn chỉ trong phạm vi gia đình nhỏ hẹp hoặc bạn bè thân thuộc. Lý do họ muốn giữ kín tin này vì sợ nhiều người xin và sẽ phát sanh những trường hợp phiền phức. Mỗi người xem ngọc xá lợi của Ngài là kho tàng quý báu rất hiếm hoi. Được tin rằng vị nào không đủ phước với Ngài Acharn sẽ không bao giờ có được xá lợi của Ngài. Có lẽ đây cũng là trường hợp của người viết, bởi vì bao nhiêu xá lợi của mình được lãnh đều cho hết, giờ đây không còn viên nào.

Cũng có nhiều câu chuyện kỳ diệu liên quan đến xá lợi của Ngài Acharn. Có hai viên được tường thuật là trở thành ba, tượng trưng Tam Bảo, đáp lại ý muốn nhiệt thành của người chủ. Trong một trường hợp khác, người nọ có hai viên, nghe nói hai viên của vị kia, do ý nguyện của chủ, đã nở thêm ra thành ba, thì cũng muốn và nguyện như vậy nhưng thay vì nở ra thêm thì lại mất đi một, hai viên trở thành một! Vị này rất thất vọng, đến gặp người viết để xin giải thích. Người viết nói rằng những viên xá lợi kia đều phát sanh do một nguồn gốc. Dù là một, hai, ba hay nhiều hơn nữa thì cũng không quan trọng. Tất cả đều có một tính cách thánh thiện. Hai viên trở thành một, tự nó cũng chính là một phép lạ. Nguyện nó trở thành nhiều hơn làm gì?

Tóc của Ngài Acharn, mỗi tháng cạo hai lần, cũng được thấy trở thành xá lợi khi được tôn trí thờ ở một nơi.

Một trường hợp khác liên quan đến một nhân viên lớn của chính phủ, hết lòng kính mộ Ngài Acharn. Ông trợ giúp rất nhiều trong giai đoạn chuẩn bị hỏa táng nhục thể Ngài Acharn, cho đến ngày chính thức hỏa táng. Khi vị tỳ khưu trưởng của Wat Suddhāvās được bà Van Khamanāmool dâng xá lợi thì tự nhiên nhớ tới vị công chức và những công đức của ông. Một buổi sáng nọ, khi vị nhân viên tới Chùa đảnh lễ vị Sư trưởng thì Sư tặng 2 viên xá lợi của Ngài. Vị công chức không biết nên không chuẩn bị sẵn lọ để nhận, liền cẩn thận đựng trong một cái lọ nhỏ rồi để vào túi. Ông rất hoan hỷ được có phước lớn, suốt ngày luôn luôn nhớ đến bảo vật trong túi mình.

Chiều về đến nhà ông vui vẻ thuật lại cho gia đình phước lớn bất ngờ. Một cái bình quý giá được đem ra và ông mở cái lọ đựng xá lợi. Vị công chức sững sờ ngạc nhiên khi thấy hai viên mà ông nhận buổi sáng giờ đã trở thành ba! Ông nói cho người nhà biết chuyện kỳ lạ về xá lợi nhưng bà vợ và các con không tin, nghĩ rằng trong khi vui mừng quá độ ông đếm lộn. Ông chắc chắn không phải vậy, chỉ có hai viên chớ phải đâu một số nhiều mà ông đếm lộn một con số nhỏ như vậy. Ông bảo vợ và con nếu không tin thì sáng sớm ngày hôm sau đi với ông đến gặp vị Sư trưởng. Cả nhà đòi đi liền đêm hôm ấy. Rồi cả nhà cùng đi đến chùa và hỏi vị Sư đã cho ông bao nhiêu viên xá lợi. Vị Sư xác nhận là cho hai viên và muốn biết vị công chức có làm mất một viên không. Vị này quay lại nhìn bà vợ và mỉm cười, rồi thuật tự sự cho vị Sư.

Vị Sư trưởng nói với ông bà nhân viên chính phủ rằng được cơ hội gặp xá lợi của một vị A La Hán quả thật rất khó. Ngài cũng nhắc ông bà nên rất thận trọng gìn giữ những viên ngọc quý này, thí dụ như luôn luôn gìn giữ phẩm hạnh đoan trang và củng cố vững chắc trên con đường của Giáo Pháp. Xá lợi đã đến một cách kỳ diệu và cũng có thể ra đi một cách lạ thường. Đối với nhiều người, rất dễ dàng tin tưởng những việc bất thiện, nhưng khó tin ở các thiện pháp. Cũng vì lý do ấy mà trên thế gian nhiều người xấu và ít người tốt. Nếu vô tư quan sát, ta sẽ thấy rõ rằng chính ta, cũng thường có khuynh hướng nghĩ đến bất thiện pháp thay vì nghĩ đến Giáo Pháp.

Vị nhân viên chính phủ và bà vợ vô cùng hoan hỷ lắng nghe lời giáo huấn và quá đỗi sung sướng bái từ ra về.

^^^

169. Tại sao tro trở thành xá lợi 


Nhiều người thắc mắc hỏi, làm thế nào tro của Ngài Acharn Sao và của Ngài Phra Acharn Mun trở thành xá lợi. Thân thể của một vị A La Hán và thân thể của người thế gian cũng đều do những nguyên tố giống nhau cấu thành, và như vậy, phải giống nhau, không có gì khác biệt. Tuy nhiên có một yếu tố quan trọng phải được ghi nhận, đó là tâm. Tâm là yếu tố căn bản quyết định sự khác biệt. Mức độ phát triển tâm và trạng thái tâm của một vị A La Hán và của một người thường khác biệt nhau rất xa. Tâm của vị A La Hán tuyệt đối trong sạch, trong khi tâm của người thường bị năng lực của ô nhiễm ảnh hưởng, trở nên dơ đục rất nhiều. Phần vật chất của thân do đó biến đổi, tương ứng với điều kiện và bản chất của tâm. Như vậy, một tâm trong sạch có thể làm trong sạch thân vật lý, cũng như tâm ô nhiễm cũng có thể làm cho thân trở nên ô nhiễm. Bản chất của thân (ở một chừng mực nào đó) có thể tự thay đổi để thích nghi với bản chất của tâm. Nói một cách khác, tâm của một vị Thánh có thể tạo nên một thân thánh thiện, và tương tự như vậy, một cái tâm bình thường có thể làm phát sanh thân bình thường.

Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, tiến trình thanh lọc thân rất chậm chạp, kéo dài rất lâu. Nếu vị Thánh Nhân sống đủ lâu sau khi thành tựu đạo quả A La Hán thì sau khi viên tịch và hỏa thiêu, rất có thể tro của Ngài trở thành xá lợi. Thời giờ có đủ để cho thân tiêu trừ những nguyên tố dơ độc trong quá trình thanh lọc. Tiến trình thanh lọc này được hoàn mãn thực hiện do tâm đều đặn mỗi ngày nhập vào trạng thái an trụ thâm sâu – vốn là cách tốt nhất để làm cho thân thư giãn và thanh lọc. Nếu vị Thánh Nhân viên tịch không lâu sau khi chứng đắc đạo quả A La Hán, người viết không chắc lắm về việc tro của Ngài trở thành xá lợi. Thân có thể chưa hoàn tất tiến trình thanh lọc.

Các vị Thánh Nhân có thể được chia thành hai hạng, tùy theo phương pháp áp dụng để chứng đắc. Hạng đầu tiên được gọi là daṇḍabhiñña, là một trong những vị tiến đạt dần dần đến mức thành tựu. Ngài là một trong những vị đã tiến đến tầng Bất Lai, nhưng ở lại lâu trong tầng ấy trước khi bước vào A La Hán Đạo. Trong thời gian ấy tâm của Ngài tiến tới và thối lui giữa A Na Hàm Đạo và A La Hán Đạo cho đến khi chứng nghiệm thâm sâu và rộng rãi những sắc thái khác nhau của Giáo Pháp. Như vậy thân của Ngài dần dần thanh lọc thể chất dơ độc do nhờ thường xuyên nhập vào trạng thái an định thâm sâu. Tâm và thân phát triển tương xứng trải qua cùng một tiến trình thanh lọc. Thân của vị A La Hán thuộc vào dạng này dễ dàng trở thành xá lợi. Hạng thứ nhì được gọi là khippābhiñña, là những vị “đốn ngộ”, mất ít thời gian hơn, và không sống lâu sau khi thành đạo. Trong trường hợp này có ít hy vọng thân trở thành xá lợi.

^^^

170. Những vị thiền sư nổi tiếng trong sự phát triển của đất nước 


Khi còn tại tiền, Ngài Acharn đã tạo ảnh hưởng gây khích lệ nơi tâm của hàng đệ tử xuất gia và cư sỹ của Ngài, và ảnh hưởng sâu đậm ấy vẫn còn cảm nhận được sau khi Ngài viên tịch. Ngài được biết là nguồn cảm hứng cho những tâm hồn sầu khổ và là suối nước mát cho những tâm chìm đắm trong ngọn lửa nóng của ô nhiễm. Có những vị đã đến bờ vực thẳm của hành động bất thiện đáng kinh sợ và những người khác sắp vi phạm tội ác hung bạo, vì ngọn lửa sân hận và oán thù. Có trường hợp của một người chỉ trong giây khắc suýt có thể giết người, bỗng nhiên thoáng nhận ra trong nhãn quang của tâm mình hình ảnh Ngài Acharn. Lửa ô nhiễm dịu ngay tức khắc. Những vị ấy nhận ra sự bất thiện của mình và ước mong được đảnh lễ tạ ơn Ngài, ngay tại đó lúc đó vì đã cứu mình khỏi chính mình.

Củng cố thiết lập tâm của người khác trên Con Đường của Giáo Pháp quả thực cực kỳ khó. Tất cả những gì thuộc về bản chất của người đời đều có chung một điểm: họ rất thích thú trong những gì phụng sự khát vọng và bồi bổ dưỡng nuôi tự ngã của họ. Việc trau dồi tâm chú trọng vào ác pháp và thiện pháp, điều phải và lẽ quấy, tất cả đều dựa vào những kết quả có nền tảng trong tâm, không phải trên quả báo vật chất. Việc phát triển tâm nhắm đến trạng thái an toàn của tâm. Đó là mục tiêu của giáo huấn và phương pháp tu luyện của Ngài Acharn. Tất cả những ai đã có diễm phúc được Ngài hướng dẫn và lắng nghe những lời dạy của Ngài đều có thể nói lên điều này với lòng tri ân thâm sâu. Có nhiều vị mong muốn làm theo và những vị đang làm theo giáo huấn của Ngài và nhiều vị muốn xả thân hy sinh trọn cuộc đời để làm được như vậy.

^^^

171. Phát triển tâm – nền tảng của sự phát triển ngoài đời 


Phát triển tâm là nền tảng của mọi sự phát triển – trong Đạo cũng như ngoài đời. Khi tâm được phát triển đầy đủ trong Giáo Pháp ắt không có những ý tưởng tội lỗi chen vào, bất luận lúc nào và bất cứ ở đâu. Một cái tâm như vậy sẽ tạo những kết quả mong chờ. Xã hội mà tâm của người công dân được trau dồi như thế chắc chắn là một xã hội lành mạnh. Một xã hội như thế sẽ phát triển tốt đẹp và người dân sẽ sống an lành, hạnh phúc. Một xã hội chuyên lo phát triển vật chất và không nghĩ đến trau dồi phần tinh thần chắc chắn sẽ thấy tình trạng khuấy rối, tội ác hung bạo, tham nhũng, gian lận, v.v. Sự phát triển như vậy không quân bình. Tiến bộ về mặt kiến thức, tạo thêm những vật dụng nhằm giúp cho cơ thể vật chất được thoải mái, chỉ khơi dậy thêm ngọn lửa nóng nhằm thiêu đốt những ai nuôi dưỡng nó. Thế gian không có trau dồi tâm là một thế gian đồi trụy, hư hỏng bên trong mà không có những hệ thống loại trừ chất độc của phế thải. Tất cả mọi tư tưởng và hành động của một thế gian như thế tách rời ra khỏi và đi ngược lại Giáo Pháp. Bậc trí tuệ đã nhận ra vấn đề quan trọng này, không ngừng trau dồi và phát triển tâm mình trước tiên. Các vị ấy hiểu rằng tất cả những gì khác đều có tầm quan trọng thứ yếu. Với tâm được trau dồi và thanh lọc đầy đủ ắt không còn mùi hôi của ác pháp, tất cả những gì khác sẽ trở nên tốt đẹp. Với tâm của mỗi cá nhân đủ trong sạch, không còn vướng bụi bặm dơ dáy, xã hội hay thế gian trở nên sạch sẽ, thanh bình an lạc và sẵn sàng tăng trưởng phần vật chất.

Trí minh mẫn sáng suốt mà tách rời khỏi Giáo Pháp, dù được trau dồi nhiều hay ít, không thể đáng được tán dương, vinh danh hay đáng tin. Dù đó là trí thông minh được trau dồi đến mức có thể đưa con người lên các vì sao, nhưng nếu áp dụng vào những mục tiêu xâm lược hay tiêu diệt, thì được gọi là trí khôn có tính cách cầm thú, hơn là tiến bộ. Trí khôn nhằm mục tiêu tàn phá, cốt yếu là trí khôn của thế gian loài thú, nơi mà cường quyền thắng công lý, ý kiến của kẻ mạnh lúc nào cũng chính đáng, nơi mà sức mạnh thống trị, và nơi mà hạnh phúc là thỏa mãn những khát vọng bạo ngược.

Trí tuệ được trau dồi theo đường lối của Giáo Pháp không cần phải có văn bằng, chứng chỉ, hay giấy chứng nhận. Cách biểu lộ của trí tuệ loại này luôn luôn đưa đến tình trạng an lành và hạnh phúc cho chính mình và như vậy không cần giấy tờ chứng minh để đảm bảo giá trị của nó.

Đã có nhiều giá trị của thế gian trần tục bị trộm lạm dụng, nhưng hậu quả cuộc những cuộc lạm dụng ấy quá hiển nhiên, và trở thành một bí mật mà mọi người đều biết. Đó là hậu quả của tính xem thường tầm quan trọng của việc trau dồi tâm và để cho sự phát triển vật chất lấn lướt, tâm bị bỏ rơi mang nặng ô nhiễm như trước, hoặc càng ô nhiễm hơn trước. Việc trau dồi tâm và phát triển vật chất khác xa như trời và đất.

Có rất nhiều năng lực “kỳ bí”, ly kỳ khởi sanh từ việc phát triển định lực, như đọc được tâm người khác, v.v. nhưng Đức Phật không khuyến khích phát triển. Từ quan điểm của Đạo Phật, người có trí là người có đức hạnh. Người có trí thể hiện mình qua lời nói và việc làm mang lại lợi ích cho người khác bằng mọi cách có thể. Sự giàu có và hạnh phúc của một xã hội, một thế giới cần vững chắc dựa trên điều kiện của tâm của mỗi thành viên của mình. Điều kiện sống có thể thiếu thốn, thức ăn có thể không đủ, nhưng khi tâm đã học được cách không bám dính vào những điều kiện không thuận lợi, đau khổ dù có lớn cỡ nào cũng luôn chấp nhận được, chịu đựng và rồi giảm thiểu.

^^^

172. Độ chín muồi của từng người quyết định mức độ tiếp thu 


Với sự chứng đắc đạo quả cuối cùng, Ngài Acharn mạnh dạn và tự tin tuyên bố Giáo Pháp với chúng sanh trong cảnh giới vô hình những gì Ngài chứng ngộ và kinh nghiệm, mà không quan tâm đến việc họ có tin không, họ tán dương hay chỉ trích. Giáo Pháp của tuệ minh sát, từ giới, định và tuệ ở vô vàn mức độ và sắc thái, đến giải thoát và Niết Bàn đều được giải thích tận tường một cách tự tin. Phần của người nghe là có khả năng hiểu biết đến đâu và làm theo đến mức nào. Những kinh nghiệm đa dạng và rất thâm sâu của Ngài với các chư thiên, ma quỷ và những chúng sanh vô hình khác, cũng được tường thuật đầy đủ. Dù người nghe có cảm kích không, hay cảm kích đến mức độ nào, tùy thuộc khả năng tiếp thu họ. Người cùng một khuynh hướng chắc chắn tiếp thu được nhiều từ những gì Ngài kể.

^^^

173. Chân thật là một phẩm hạnh của chư thiên 


Ngài Acharn thường đón tiếp nhiều nhóm các vị Trời đến nghe Ngài thuyết giảng. Một lần nọ Ngài cảm thấy mệt mỏi và muốn nghỉ ngơi. Khi những nhóm chư thiên khác đến, thì Ngài mời đến gặp một vị tỳ khưu đệ tử, cũng có khả năng giao tiếp với các vị ấy. Các vị trời đi gặp vị tỳ khưu ấy và lắng nghe giảng giải Giáo Pháp theo lời yêu cầu của các Ngài. Sáng hôm sau vị tỳ khưu đến gặp Ngài Acharn và tường thuật những gì xảy ra trong đêm trước. Ngài xác nhận đó là sự thật.

“Không phải như chúng sanh trong cảnh người, chư thiên luôn luôn nói thật. Đức tánh chân thật là phẩm hạnh chính yếu của những chúng sanh trong cảnh trời. Các Ngài không bao giờ nói dối hay thất hứa. Từ tất cả những kinh nghiệm của tôi,” Ngài nói, “Tôi chưa bao giờ biết một vị nào trong các vị trời mà nói dối, hay thất hứa. Khi đã nói sẽ đến vào lúc nào thì chắc chắn vào lúc ấy sẽ đến. Các vị ấy thận trọng gìn giữ sự chân thật cũng như thận trọng giữ gìn sanh mạng mình. Họ chỉ trích mạnh mẽ những ai thất hẹn và không dung tha người thất hứa mà không có lý do chính đáng. Có lần họ cũng trách tôi vì đến giờ hẹn mà còn ở trong trạng thái tâm toàn định, chưa xuất ra tầng thiền mà có thể giao tiếp được, làm họ phải chờ. Tôi nói rằng vì kết cấu của cơ thể vật lý của tôi, nó cần phải được nghỉ một lúc, nên không thể xuất thiền. Các vị ấy thông hiểu.

“Tôi nói rằng tôi chỉ là một vị tỳ khưu, còn các vị thì đông đảo cả hàng trăm ngàn – những vị ở quả địa cầu và những vị ở trong các cảnh giới cao hơn – tất cả đến gặp chỉ một tỳ khưu, tôi! Ai có thể làm vừa lòng tất cả mà không mỏi mệt? Nghĩ đến cơ cấu vật chất của tôi, các vị nên khoan dung hơn điều sơ sót nhỏ vô tình ấy. Nếu phải bị trách vì một điều như vậy, tôi thà hạnh phúc trong hỷ lạc của bình an mà không phiền lòng phải tiếp khách nữa. Họ thông hiểu và xin lỗi. Những trường hợp như thế thường xảy ra với những vị mới, không quen trước với tôi. Những vị đã biết tôi và đã rõ về cơ thể vật chất của tôi thì vui vẻ cảm thông và bỏ qua nếu có chút ít chậm trễ.”

^^^

174. Những chiều sâu khác nhau của lòng chân thật 


“Những vị trời ấy cũng cảm thấy không thoải mái khi biết rằng tôi đang ở trong trạng thái thâm sâu của thiền mà phải xuất ra tiếp đón thì quả thật phiền phức. Tôi nói với các vị ấy rằng còn hơn các vị trời, tôi đánh giá tánh chân thật cao hơn là mạng sống. Rằng đôi khi tôi đón tiếp các vị chậm trễ vì đối với tôi, chân thật với Giáo Pháp còn cao xa hơn nhiều chân thật với chư thiên. Cơ thể của chư thiên quả thật là tế nhị, nhưng mặc dù các vị trong cảnh giới mà phần sắc tế nhị nhất, sự chân thật của tôi đối với Giáo Pháp và tâm mình còn tế nhị hơn nhiều. Nhưng tôi chưa bao giờ đề cập đến điều này với họ vì không muốn tỏ ra khoe khoang phẩm hạnh của mình. Sau khi nói hết những điều cần thiết để cho các vị ấy thấu hiểu thái độ của tôi và Giáo Pháp mà tôi thận trọng gìn giữ, và như thế không còn mạnh mẽ chỉ trích tôi nữa.

“Sau khi nói tất cả những lời ấy”, Ngài Acharn tiếp tục, “các vị ấy có vẻ lo sợ đã tạo nhiều hậu quả bất thiện và xin sám hối với tôi. Tôi nói không bao giờ tôi muốn gieo hạt giống tai hại hay bất thiện cho ai, hữu hình hay vô hình, cao hay thấp, người hay thú. Tôi luôn luôn ban rải tâm từ đến tất cả chúng sanh, bất cứ ở đâu. Mỗi khoảnh khắc của tâm và mỗi cử động của thân đều dựa trên Giáo Pháp Tuyệt Đối Trong Sạch. Tôi nói với các vị trời rằng các vị ấy chỉ có phước báu và sự chân thật trần gian, và những phước ấy không sánh bằng phẩm hạnh của Đức Phật và chư vị Thánh Đệ Tử, tất cả đều có sự chân thật, Giáo Pháp và tâm Tuyệt Đối Trong Sạch. Trạng thái này tuyệt hảo hơn những gì mà người thế gian có thể tưởng tượng, và thậm chí con người không đủ khả năng để tưởng tượng ra nó một cách đúng đắn. Cách duy nhất để biết nó là phải chứng ngộ trực kiến. Không có thắc mắc, hỏi tôi đã chứng ngộ điều ấy chưa. Cần gì phải khoe khoang về điều ấy bây giờ?”

Ngài Acharn nói rằng nếu những vị trời ấy là người, thì có thể cảm thấy xấu hổ và buồn rầu vì những điều Ngài nói, nhưng trong trường hợp này các vị trời tỏ ra nhận ra lỗi lầm và sự vô minh của mình, chăm chú lắng nghe lời giảng của Ngài. Các vị không nuôi dưỡng ý nghĩ bất thiện nào đối với Ngài. Chúng sanh như thế đáng được gọi là “cấp tiến.”

^^^

175. Điều không biết và điều không thể biết 


Đối với người thường, những câu chuyện trên đây không thể nào biết đến được. Những chúng sanh mà vô hình như vậy, chỉ đơn giản là không hiện hữu, không thể có. Những bậc đã hoàn toàn giác ngộ cũng bị coi như vậy. Vì chính tự họ chưa chứng ngộ điều đó, chưa kinh nghiệm điều đó, nên cho đó là những gì không ai có thể đạt đến. Nhưng đối với Đức Phật và chư vị Thánh Đệ Tử thì biết hoàn toàn giác ngộ là gì. Không có gì bí hiểm. Chỉ có vài người không biết rằng có thể truyền thông giao cảm với những chúng sanh vô hình, không phải tất cả đều không biết. Điều ấy có thật trong thời Đức Phật và thật sự có trong hiện tại. Những ai ở trong vị thế không thể biết ắt không biết, nhưng người có đầy đủ điều kiện để hiểu biết thì biết được. Tin tưởng hay phản đối những sự kiện như thế không làm sáng tỏ vấn đề hơn cho họ. Do đó, những sự kiện được ghi lại ở đây, một phần do các vị đệ tử của Ngài Acharn kể lại và lòng sùng kính tin tưởng nơi Ngài của người viết. Nếu có ai đến bảo người viết chết ngay lập tức để cho Ngài Acharn có thể sống lại và thuyết giảng một lần nữa Giáo Pháp từ sự Chứng Ngộ của Ngài, người viết sẽ không ngần ngại chiều theo ý muốn ấy. Bằng cách trực tiếp nghe những lời dạy của Ngài Acharn người ta sẽ thọ hưởng nhiều lợi lạc hơn là đọc những gì người viết thuật lại về cuộc đời của Ngài. Có nhiều việc Ngài Acharn kể mà không được ghi trên các trang sách này vì mức độ tiếp nhận kém của người viết. Được ghi nơi đây chỉ là những gì còn lại trong tâm thức.

Ngài Acharn chính là người nói ra cho vài vị đệ tử, và tất cả các vị ấy đều xác nhận những kinh nghiệm và sự thành tựu của Ngài cũng như giữa các vị đệ tử. Cũng giống như các vị Thánh Đệ Tử đã chứng kiến và xác chứng sự Giác Ngộ của Đức Phật và giữa các vị đệ tử khi thực hành Giáo Pháp. Đây có thể là một cách khẳng định sự thật là những gì mà vài người không biết không có nghĩa là những người khác không thể biết được.

^^^

176. Trường hợp một cái tâm lươn lẹo 


Trong khi Ngài Acharn lưu ngụ tại làng Nong Phue, có một cụ bà cư sỹ áo trắng cảm phục Ngài một cách rất thâm sâu và đến hỏi về kinh nghiệm của bà trong khi ngồi thiền đêm hôm trước. Bà nói trong khi ngồi thiền tâm của bà an định nhất điểm và không có “hình ảnh” gì, tất cả đều rỗng không. Bà quán niệm trạng thái tâm này, và rất ngạc nhiên trông thấy hình như có một sợi chỉ từ trong mình bà chạy ra khỏi thân và tâm. Bà quyết định theo dõi vì muốn biết sợi chỉ chạy đi đâu và tại sao. Bà sớm khám phá rằng sợi chỉ từ trong tâm bà chạy đến bụng một người cháu họ mà bà rất thương yêu, cũng ở cùng một làng với bà, và điều này xảy ra mặc dù bà chưa chết. Bà rất kinh sợ và xuất thiền. Bà cũng biết rằng lúc bấy giờ cháu bà mang thai được một tháng. Kinh nghiệm này làm cho bà rất hoang mang, vội vã đến thuật lại cho Ngài Acharn và xin Ngài khuyên dạy. Nhóm đệ tử của Ngài ai nấy cũng ngưng thở chờ câu trả lời.

Ngài Acharn nhắm mắt thiền vài phút rồi nói với bà, lần tới nếu bà hành thiền và thấy chỉ kéo ra thì phải quyết định dùng năng lực của trí tuệ cắt đứt sợi chỉ. Nhưng tình trạng quyết tâm này phải vững chắc và không lay chuyển, không phải hững hờ, làm cho có lệ. Nếu không vậy, sau khi chết bà sẽ tái sanh vào bụng của cô cháu mà bà hằng có nhiều luyến ái. Bà ra về, và hai ngày sau trở lại gặp Ngài Acharn với một nụ cười, nói rằng bà đã làm theo lời dạy của Ngài, và đã thành công. Với tâm tuyệt đối cương quyết bà cắt đứt sợi chỉ trong khi chỉ chạy hướng về cháu bà. Đêm sau bà ngồi thiền nữa và như thường lệ cố gắng xem sợi chỉ còn đó không, nhưng không thấy dấu vết gì.

Ngài Acharn nói, “Giờ đây bà có thể thấy cái tâm hoạt động vi tế và gian xảo như thế nào, và chỉ bằng cách hành thiền mới có thể khám phá nó. Bà suýt làm nạn nhân của cái tâm mình, vốn trơn tuột và lươn lẹo, có thể đã đưa bà vào bụng của cô cháu. Thiền của bà đã cứu thoát bà.”

Đồng thời, với sợi chỉ bị cắt đứt, cái bào thai trong bụng cô cháu cũng hư hoại.

Những vị đệ tử khác nghe câu chuyện kỳ lạ ấy lấy làm thắc mắc, muốn biết tại sao một người vẫn còn sống có thể tái sanh vào bụng của một người khác. Ngài Acharn nói rằng việc này có thể xảy ra vì lúc ấy còn ở trong thời kỳ sớm của phôi thai, chưa thật sự đã có ai sanh vào thai bào. Nếu bà cụ không sớm khám phá được quỷ thuật của chính tâm (ngủ ngầm) của bà, ắt sẽ (chết và) tái sanh vào bào thai trong bụng cô cháu.

Vấn đề tự nhiên được nêu lên là có phải chăng cắt đứt sợi chỉ giữa bà cụ và cái bụng của cô cháu là hành động sát sanh. Ngài Acharn giải thích rằng việc cắt đứt sợi chỉ chỉ là bằng hành động của tâm, không phải bằng vũ khí vật chất. Thân và tâm bà cụ vẫn còn ở với bà như trước, và cùng lúc ấy sự sanh chưa bắt đầu trong bụng cô cháu đến mức được gọi là một “người”.

Ngài Acharn đã chấp nhận lời của bà cụ là thật, vì không nói lời nào ngược lại. Như vậy diễn biến trên có thể được xem là thật. Một lý do khác là bà cụ rất thương yêu cô cháu, lúc nào cũng hết lòng chăm nom săn sóc và quý mến, không nghĩ rằng trong lúc còn sống, tâm (ngủ ngầm) của chính bà “trườn ra” dọn chỗ cho kiếp sau. Nếu không vâng lời cắt lìa sợi chỉ, bà sẽ (chết sớm và) làm con cô cháu.

Chính vì lý do ấy mà Ngài Acharn nói rằng những đòn gian xảo và những mánh khóe của hành vi quỷ quyệt trong tâm con người quả thật vi tế và tinh quái không thể lường, có thể gây tai hại cho người ấy trong khi còn sống cũng như sau khi lìa đời. Như vậy, trau dồi tâm nhằm giúp bảo vệ tình trạng an lành và châu toàn quả thật hữu ích và tối quan trọng. Điều này đặc biệt đúng vào khoảnh khắc nguy kịch khi thân hoại diệt, chỉ còn niệm và tuệ đã phát triển đầy đủ mới có thể cứu giúp tâm chống lại những cơn đau vật chất, và quyết định cảnh giới sắp đến của thức. Thành công hay thất bại vào lúc cơ thể vật chất tan rã có nghĩa là kiếp tới được an lành hay phí uổng.

Nếu tái sanh vào cảnh thú chẳng hạn, thời gian bằng tuổi thọ của con vật quả thật là bị bỏ phí, và còn phải cam chịu những điều kiện đau khổ đặc thù của loài thú ấy. Nhưng nếu có niệm và tuệ vào lúc lâm chung, thì tối thiểu, sẽ tái sanh được vào cảnh người, hay trong trường hợp khác, được tái sanh vào cảnh trời, có thể sống lâu dài và hạnh phúc rồi mới phải quay lại cảnh người.

Dù ở trong cảnh người, tâm vẫn hướng về phước lành và đức hạnh đã được tích lũy trong quá khứ. Về sau những thiện pháp này lại được bổ sung thêm cho đến khi tâm đủ chín muồi. Trong trường hợp như thế này, cái chết chỉ là sự chuyển tiếp của thân từ thấp hơn đến cao hơn, từ kiếp (sống) ngắn hơn đến kiếp dài hơn, từ thô đến tế, và từ nhiều kiếp sống đến ít kiếp sống hơn, rồi đến mức không còn kiếp nào nữa. Đức Phật đã trải qua tiến trình này, và chư vị Thánh Đệ Tử của Ngài cũng vậy, đã thay đổi những cảnh giới sanh tồn khác nhau cho đến khi không cần phải thay đổi nữa. Tâm đã được trau dồi, phát triển và củng cố vững chắc, cho đến khi chứng ngộ Niết Bàn. Vì lẽ ấy, bậc thiện trí không bao giờ nhàm chán trong công phu tích trữ phước báu, chuyên cần tận lực cố gắng gieo trồng những tư tưởng và hành động trong sạch vào bất luận lúc nào và bất cứ nơi đâu.

^^^

177. Long vương để lại dấu chân 


Một sự kiện lý thú khác đã xảy ra trong làng Nong Phue. Buổi sáng nọ Ngài Acharn xuất thiền và ra khỏi tịnh thất, bỗng nhiên kêu các vị tỳ khưu đệ tử đi xem dấu của một con rắn to lớn để lại. Ngài nói với các vị ấy rằng đêm rồi có một long vương đến để nghe Ngài thuyết giảng, và Ngài nói với vị này, trước khi ra đi hãy để lại dấu vết để cho chư vị tỳ khưu và samāṇera có thể thấy vào buổi sáng. Chư vị tỳ khưu đi ra ngoài xem và bạch lại với Ngài rằng có những dấu in dưới đất không biết từ đâu đến, hình như bỗng nhiên in dưới đất gần bìa rừng chạy dài đến phía dưới tịnh thất Ngài. Những cái dấu trông giống như của một con rắn rất to. Khoảng trống bao quanh tịnh thất là đất cát pha nên dấu in thật rõ ràng, xác nhận lời của Ngài Acharn.

^^^

178. Tuệ minh sát đa dạng của Ngài 


Một diễn biến lạ thường nữa cho thấy Ngài có khả năng biết những việc mà người thường không thể biết.

Một vị tỳ khưu nọ thường thấy Ngài Acharn hút thuốc điếu hiệu Con Gà. Vị ấy nghĩ rằng chắc Ngài thích hút thuốc hiệu đó, và nhờ một thị giả mua hộ một gói để sư dâng đến Ngài. Lúc ấy Ngài đang thảo luận về Giáo Pháp. Khi vị tỳ khưu dâng gói thuốc thì Ngài để qua một bên và tiếp tục cuộc thảo luận. Hôm sau, khi vị tỳ khưu đến thì Ngài trả lại gói thuốc, nói rằng mình không thể hút thuốc này vì nó thuộc về của nhiều người và không phải tất cả những người chủ ấy đều cho phép. Vị tỳ khưu bạch với Ngài Acharn rằng nó chỉ là của mình bởi vì mình đã nói với thị giả mua hộ để đặc biệt dâng đến Ngài Acharn. Mặc dù vậy, Ngài Acharn nhấn mạnh là Ngài không thể hút những điếu thuốc này vì không phải tất cả những người chủ đều đã cho.

Sợ rằng nếu mình cố nói thêm ắt bị khiển trách, vị tỳ khưu lấy lại gói thuốc, rồi đến gặp người thị giả và hỏi ông có được gói thuốc bằng cách nào. Người thị giả nói rằng ông đã mua với một số tiền trong đó một phần là tiền của một vài vị tỳ khưu khác. Nghe như vậy tỳ khưu nhận ra rằng quả thực Ngài Acharn hiểu đúng và chính sư sai lầm. Sư bèn hỏi những vị sư khác là ai và đến xin phép, các vị này đều sẵn sàng vui vẻ dâng đến Ngài. Vị sư trở lại sám hối với Ngài Acharn rằng Ngài hiểu đúng, và chính sư đã hiểu lầm và hiện giờ tất cả những chủ sở hữu của gói thuốc đều hoan hỷ dâng đến Ngài. Rồi sư dâng lên một lần nữa, và Ngài thọ nhận mà không có lời gì.

Ít lâu sau, trong khi đàm luận với một nhóm huynh đệ, vị tỳ khưu nhắc lại câu chuyện này. Một vị lấy làm ngạc nhiên, nhưng một vị khác không lấy làm lạ. Vị ấy nói với nhóm đạo hữu rằng cũng vì biết khả năng của Ngài Acharn cao siêu như thế nên mới đến đây tu tập dưới sự hướng dẫn của Ngài. Vị sư nói rằng chính bản chất tự nhiên của mình là rất ngoan cố nên chính sư và sự ô nhiễm của sư đã thử thách nhiều vị thiền sư khác của mình, tuy nhiên đối với Ngài Acharn những điều này trở thành bất lực. Vị sư nói rằng từ ngày đến đây tu tập, sư có thể kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm của mình đến mức như đôi khi cảm thấy như không còn ô nhiễm nào cả. Sư nói rằng sự hiểu biết về gói thuốc lá không nhằm nhè gì so với những khả năng khác của Ngài Acharn.

“Tâm của người thế gian rất ngoan cố”, sư nói. “Nó chỉ sợ lửa khi bị lửa thiêu đốt. Nhưng khi hết nóng nó không thể nhịn thèm không trở lại chơi với lửa. Tâm tinh nghịch và hiếu động còn hơn hàng trăm con khỉ. Và còn tệ hại hơn nữa, nó có thể trở nên chai cứng trước tiếng nói của lương tâm và hình như không lay chuyển trước hậu quả của ác pháp. Cũng vì thế mà tôi không thể rời Ngài Acharn, vì không thể tin mình được. Dưới mắt quan sát của Ngài, tâm tôi bắt buộc phải vâng lời và rồi như thế được kiểm soát có hiệu quả hơn. Mỗi lần vừa đi lệch ra ngoài là bị bắt gặp và ngăn chặn lại. Tôi rất ngoan cố và không cần gì hơn là một kỷ luật nghiêm khắc và cách đối xử cứng rắn.”

^^^

179. Kiểm tra khả năng tha tâm thông của Ngài Acharn 


Vị tỳ khưu tiếp tục thuật lại câu chuyện của sư khi mới đến ở đây với Ngài Acharn và những gì sư đã làm.

“Tất cả những ai đã có ở với Ngài Acharn đều biết rõ năng lực thần thông của Ngài, nhất là khả năng đọc tâm của người khác. Riêng tôi muốn biết điều này có thực sự đúng hay không và đùa giỡn với ý nghĩ muốn kiểm tra. Tôi nghĩ rằng bất luận bằng cách nào, nếu Ngài cho thấy là có khả năng hiểu biết những gì tôi đang suy tư, là tôi thỏa mãn. Và nếu Ngài có thể làm được như vậy, tôi sẽ cung hiến trọn đời mình.

“Chiều hôm ấy tôi đến gặp Ngài Acharn và trước mặt Ngài bắt đầu cảm thấy rất không thoải mái. Điều này rất lạ thường vì trước đây không bao giờ tôi thấy không thoải mái khi đến với Ngài. Rồi tôi để ý rằng Ngài chăm chú nhìn tôi một cách khác thường. Giống hình như đang lấy tay chỉ ngay mặt tôi và hét lớn suy nghĩ của tôi vào trong lỗ tai tôi. Ngài bắt đầu giảng Pháp, nhưng hầu như tôi không nghe được tiếng nào. Tâm tôi bị cảm giác tội lỗi thiêu đốt bao trùm. Chẳng bao lâu, hình như tiếng nói của Ngài là những ngọn roi quất mạnh phía sau lưng tôi, càng lúc càng gần. Có khi tôi cảm thấy như roi quất mạnh vào tim. Tôi không thể ngồi im mà phải luôn luôn xoay qua trở lại. Cuối cùng tôi không thể chịu đựng được nữa. Thầm trong tâm, tôi bạch với Ngài xin sám hối, nói rằng tôi chỉ có ý tò mò, chứ không cố ý thẩm nghiệm khả năng của Ngài. Tôi muốn xin Ngài chấp nhận một lần nữa, cho làm đệ tử, và nguyện cung hiến trọn cuộc đời mình. Ngài dần dần lắng dịu, rồi cảnh cáo: “Hãy nhìn vào trong để thấy những sai lầm và khuyết điểm của mình. Tìm những thành công hay thất bại của người khác không ích gì, nếu tự mình không trau dồi và cải thiện. Chỉ biết rằng người khác đã viên mãn thành công không ích gì cho mình, vì mình vẫn còn như cũ. Ta không hề cố gắng để chính ta thành công. Con phải hiểu điểm mạnh và điểm yếu của mình trên mọi phương diện, trước khi cố gắng tìm hiểu năng lực và nhược điểm của người khác. Vì tính tò mò “kiểm tra” người khác không lợi ích gì.

“Khi thời Pháp chấm dứt, mồ hôi ướt dầm cả mình tôi. Đó là thời điểm mà tôi hoàn toàn kính phục, quy hàng vô điều kiện. Kể từ đó không bao giờ dám cả gan đùa giỡn với những suy nghĩ như vậy về Ngài.”

Những khả năng đặc biệt có thể khác loại nhau và ở mức độ khác nhau, nhưng Giáo Pháp dẫn đến chứng ngộ Niết Bàn lúc nào cũng giống như của Đức Phật đã chứng ngộ. Mỗi hành giả đều có thể nhận ra sự thật tùy theo mức độ chân thật của chính họ.

^^^

180. Phra Acharn Chob mạo hiểm với cọp


Câu chuyện sau đây liên quan đến một vị Acharn mà người viết khâm phục và kính mộ sâu xa. Tên của Ngài là Phra Acharn Chob, hiện nay vào khoảng hơn bảy mươi tuổi. Ngài đã thọ giới tỳ khưu từ lâu và thường thích sống ẩn dật trong rừng sâu. Khi đi đâu Ngài có thói quen đi ban đêm, và như vậy thường gặp những loài thú rong rả kiếm ăn ban đêm, như cọp.

Phra Acharn Chob muốn đi về hướng Bắc, gần Chiengmai và Lampang, và ra đi vào một buổi chiều theo hướng về quận Lomsak trong thị trấn Petchaboon. Ngài đến gần Dong Luang (Rừng Lớn) và nơi đây gặp dân làng khuyên Ngài nên ngừng nghỉ qua đêm trong làng trước khi xuyên rừng. Họ thành thật lo cho tình trạng an toàn của Ngài, nói khu rừng này rộng lớn, và nếu bắt đầu đi vào buổi chiều thì Ngài sẽ phải ở đêm trong rừng. Ở đó có nhiều cọp dữ rất có thể tấn công Ngài. Trước đây đã có nhiều khách qua đường đã làm nạn nhân của cọp khi đi xuyên rừng trong đêm. Họ cung thỉnh Ngài ở lại làng qua đêm để được an toàn. Họ sẽ để bát Ngài vào sáng hôm sau, rồi Ngài sẽ tiếp tục lên đường.

Mặc dù dân trong làng lo ngại và khuyên Ngài như vậy, Phra Acharn Chob vẫn quyết đi. Họ hỏi Ngài có sợ cọp không, Ngài nói sợ, nhưng dù sao cũng sẽ đi. Ngài nói nếu phải làm mồi cho cọp, thì đó là do nghiệp. Ngài từ giã và lên đường vào Rừng Lớn. Đi không bao xa thì thấy nơi đâu cũng có dấu chân, nước tiểu và phân cọp, mới có cũ có. Thấy dấu vết như vậy, Ngài gom tâm đọc kinh.

Khi đêm đến thì Ngài đến giữa Rừng Lớn. Bỗng nhiên nghe cùng lúc tiếng rống vang rền của hai con cọp to lớn, một ở phía trước và một ở phía sau. Cọp đến càng lúc càng gần, tiếng rống càng điếc tai. Cả hai con đều như có ý muốn ăn thịt Ngài. Một trong hai con xuất hiện trên đường mòn khoảng hai thước trước mặt, và thoáng nhìn lại phía sau thấy con kia cách xa cũng độ hai thước như vậy. Hai con cọp khổng lồ. Ngài chưa từng thấy cọp to như vậy. Phra Acharn Chob không còn cách nào làm gì khác hơn là đứng yên, đoán chắc rằng đây là giờ phút cuối cùng của đời mình. Ngài không thể nói rằng mình không sợ nhưng có thể là Ngài sợ quá đến mức không hay biết gì về điều đó. Ngài đứng như trồng trên mặt đất, nhưng vào khoảnh khắc nguy ngập ấy, chánh niệm đến cứu Ngài. Đã liều thân cho cọp, Ngài quyết định không bỏ rơi chánh niệm. Tâm rút ra khỏi hình ảnh cọp, an trụ vào bên trong, gom thành nhất điểm. Ngài biết rằng vào lúc này cọp không thể làm gì hại Ngài. Rồi trong khoảnh khắc, Ngài không còn biết cả cọp, thân và tư thế đứng của mình, tất cả mọi thứ. Tâm hoàn toàn tập trung vào nền của thiền và giữ tư thế đó trong nhiều tiếng đồng hồ. Khi xuất thiền, Ngài thấy mình còn đứng yên như trước, cái klod (cây dù) một bên trên vai, bình bát nằm trong bao máng lòng thòng trên vai kia, cây đèn lồng đi đường còn trong tay nhưng đã tắt lâu rồi. Ngài thắp lên một ngọn đèn cầy khác, nhưng hai con cọp đều đã đi mất. Cảnh rừng im lặng.

Ngài Phra Acharn Chob rất đỗi ngạc nhiên, thấy mình còn nguyên vẹn, hai con cọp không động đến, và không làm gì hại. Giờ đây, tâm đầy dũng cảm, Ngài cảm thấy như cái tâm được Giáo Pháp bảo vệ của Ngài có đủ khả năng để đối đầu với cả trăm, cả ngàn con cọp. Ngài cảm thấy rất thương yêu hai con cọp, thật sự là hai bạn lành trá hình để “nâng” mình lên tới được Giáo Pháp và giúp mình chứng ngộ sự vi diệu của Giáo Pháp. Ngài biết rằng thay vì sợ cọp, Ngài phải hết lòng tri ân, cảm tạ. Vững chắc xác tín năng lực của Giáo Pháp quả thật là tối thượng trong Tam Giới, Ngài tiếp tục lên đường, hoan hỷ với những điều mới phát hiện ra. Nhớ lại hai con cọp với lòng tri ân vô hạn, Ngài tập trung tâm, lấy bước đi làm đề mục thiền hành trên đường. Cảm thấy như chắc chắn rằng, nếu gặp trở lại hai con cọp, sẽ đi ngay đến vỗ đầu chúng để tỏ lòng thương mến và biết ơn.

Trầm mình trong hỷ lạc, Ngài tiếp tục đi cho đến sáng, nhưng chưa ra khỏi bìa khu Rừng Lớn. Mãi đến chín giờ sáng mới đến làng, ở phía bên ngoài bìa rừng. Thấy Ngài từ trong rừng đi ra vào lúc sáng sớm như vậy, cả làng ai nấy đều hết sức kinh ngạc, chạy ra tụ họp lại để dâng vật thực và để hỏi làm thế nào Ngài xuyên qua khu Rừng Lớn suốt đêm mà không bị hại. Ngài Phra Acharn Chob nói rằng Ngài đi suốt đêm vì Ngài thích cảnh ẩn dật, vắng vẻ. Họ rất đỗi sợ hãi và ngạc nhiên hỏi Ngài có gặp cọp trên đường đi không. Ngài nói có gặp vài con nhưng chúng không làm gì hại. Trước tiên người dân làng lấy làm khó tin, nhưng rõ ràng là Ngài vừa mới từ trong rừng bước ra sau khi đi trọn đêm qua rừng và giờ đây đang đứng trước mặt họ.

Làm sao Ngài Acharn Chob gặp cọp giữa đường trong đêm tối mà còn sống sót, và tại sao nhiều người đã bị lạc đường mà trong đêm tối Ngài vượt qua khỏi rừng an toàn và không bị lạc. Đó là những câu hỏi quanh quẩn trong đầu họ. Năng lực của Giáo Pháp quả thật là phi thường. Cuộc băng rừng của Ngài Phra Acharn Chob có thể hữu ích cho tất cả những người khách lữ hành đi xuyên qua khu rừng của đời sống. Trong cuộc hành trình dai dẳng xuyên qua kiếp nhân sanh, Giáo Pháp thật vô cùng thiết yếu cho tất cả mọi người để hộ tống và bảo vệ họ khỏi lầm đường lạc nẻo.

^^^

181. Cuộc mạo hiểm của Ngài Acharn Chob tại Miến Điện và một con cọp cận vệ


Khi Phra Acharn Chob ở Miến Điện, lúc du phương trong rừng và lưu ngụ trong một động trên núi để hành thiền thì thường có những con cọp đến thăm, nhưng không có cọp nào gây tổn hại Ngài.

Một buổi chiều nọ, lúc khoảng năm giờ, Ngài ngồi thiền trong động như thường lệ. Khi xuất thiền, vừa mở mắt ra thì thấy một con cọp to lớn ngồi đối diện với mình trước cửa động. Có lẽ vì đã nhiều lần thấy cọp trong vùng này, Ngài không cảm thấy sợ. Hai bên nhìn nhau một cách thản nhiên. Cọp ngồi nhìn ngó xung quanh một lúc, rồi tình cờ nhảy vọt lên tảng đá bằng mặt ở trước miệng hang. Rồi cọp rửa mình, liếm mấy cái móng to tướng của nó, như ở một mình không có ai khác. Sau khi liếm rửa mình xong, cọp ngồi thoải mái trên tảng đá. Mặc dù không có tâm sợ cọp nhưng Phra Acharn Chob thừa nhận rằng mình không thể thiền hành như mọi khi. Đường mình đi kinh hành quá gần tảng đá mà cọp đang ngồi nghỉ. Ngài cảm thấy mất thoải mái, và ngồi lại hành thiền như trước.

Từng chặp, cọp liếc nhìn Ngài một cách thân thiện và dịu hiền. Chỉ thỉnh thoảng nhìn thoáng qua, không chú tâm lắm. Hình như nó cũng thích thú 319 ngồi trên tảng đá. Lúc đầu Phra Acharn Chob nghĩ rằng nó sẽ không ngồi lâu, nhưng, không theo ý Ngài, dường như ông bạn cọp đang nghĩ đến việc ở luôn nơi đó thì đâm ra thất vọng.

Đến chiều tối, Phra Acharn Chob thắp lên ngọn đèn cầy và liếc nhìn phản ứng của cọp. Không có phản ứng gì cả! Vậy, Ngài bỏ mùng xuống bao trùm cái klod và ngồi hành thiền trong đó đến lúc ngủ. Ngài thức dậy vào khoảng ba giờ sáng, xếp mùng lại và thắp lên ngọn đèn cầy. “Huynh cọp” vẫn còn thản nhiên nằm thoải mái trên tảng đá như thường. Khi đến giờ đi trì bình khất thực, hiển nhiên là Phra Acharn Chob phải đi qua chỗ nằm của “anh cận vệ.” Nghĩ rằng mình phải đi ngang gần sát cọp lối một thước không biết cọp có thể làm gì không, khi mình bước ngang qua để ra khỏi hang động. Trong khi Ngài đắp y, Ngài liếc nhìn cọp và thấy nó đang nhìn mình với cặp mắt dịu hiền, giống hệt như chó nhà nhìn chủ. Trước khi bước ra, Phra Acharn Chob nói với cọp:

“Này ông bạn, đã đến giờ tôi phải đi để trì bình khất thực. Tôi cần thức ăn để nuôi dưỡng cơ thể, cũng như loài thú và những nguời khác. Bạn có thể ngồi đây như ý muốn, hay đi tìm thức ăn cho bạn.”

Cọp có vẻ lắng nghe, mắt chăm chú và dịu hiền. Rồi Ngài bắt đầu nhẹ nhàng bước ra miệng hang, ngang qua tảng đá. Suốt quãng thời gian ấy cọp nhìn Ngài giống như nói, “Xin Ngài Acharn hãy đi qua, không cần phải sợ. Tôi đến đây chỉ để bảo vệ Ngài.”

Phra Acharn Chob đi vào làng trì bình, nhưng không nói cho ai biết về “ông cận vệ” tại hang động, sợ làm phiền người làng. Khi Ngài trở về động thì không còn thấy cọp ở đâu, và sau đó không còn thấy trở lại, khi Ngài ở đó. Phra Acharn Chob nghĩ rằng có thể là một vị trời giả hình cọp. Nó trông như một loài thú hiền lành, không bao giờ có hành động hăm dọa khi ở tại đó. Phra Acharn Chob nói rằng trong nhiều ngày sau đó Ngài rải tâm từ đến con cọp ấy, mong nó trở lại, nhưng nó không trở lại. Trong cảnh tĩnh lặng của những đêm sau đó, Ngài thường nghe thấy cọp rống trong vùng, nhưng không biết trong ấy có tiếng nào của “ông bạn cận vệ” không. Trong vùng ấy có rất nhiều cọp và đó là một khu rừng khủng khiếp đối với người sợ cọp.

Đối với Phra Acharn Chob, ngày mà “ông bạn cận vệ” của Ngài vẩn vơ ở miệng hang là một ngày khích lệ và làm tăng cường đức tin nơi Giáo Pháp.

^^^

182. Một vị trời dâng vật thực


Phra Acharn Chob ở Miến Điện năm năm, và có thể nói tiếng Miến trôi chảy. Khi xứ Miến Điện bị cả người Nhật và người Anh xâm lăng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến thì Ngài bị bắt buộc phải trở về Thái. Mọi hang cùng, ngõ hẻm trong thành phố và trong những vùng rừng sâu núi thẳm đều bị lục soát. Người Anh rất hận thù dân Thái vì Thái Lan lúc bấy giờ là quốc gia đồng minh của Nhật. Tất cả những người Thái mà họ gặp – đàn ông, đàn bà, kể cả nhà sư – đều bị tàn sát không trừ một ai. Người Miến Điện trong làng rất ngưỡng mộ Ngài, khi thấy lính Anh càng lúc càng len lỏi quấy rầy thì rất lo ngại cho tình trạng an ninh của Ngài. Họ thống nhất di chuyển Ngài vào khu rừng núi, nơi mà họ chắc rằng lính Anh không thể tìm ra.

Nhưng rồi một ngày nọ họ thất vọng, vì lính Anh tìm thấy Ngài lúc Ngài đang đọc kinh chúc lành cho dân làng. Mọi người đều xanh mặt kinh sợ khi thấy lính Anh xuất hiện từ một con đường mòn sâu kín trong rừng. Tuy nhiên họ cũng giải thích rằng Phra Acharn Chob chỉ là một nhà sư, và như vậy không liên hệ gì đến chiến tranh; rằng Ngài đã ở Miến Điện từ lâu, trước thời có chiến tranh và Ngài rất được tôn kính, như vậy, nếu làm gì có hại cho Ngài tức là gây tổn hại cho chính người Miến. Thấy dân làng mạnh mẽ chống đối những gì họ định làm, nhóm lính Anh bàn thảo với nhau độ nửa tiếng đồng hồ. Sau đó họ đồng ý tha chết cho Ngài, nhưng khuyên tốt hơn nên rời Ngài đến một nơi khác, nếu không một nhóm lính khác có thể đến, sẽ không nghe lời họ và tha cho Ngài. Trong suốt quãng thời gian đó, Phra Acharn rải tâm từ đến họ và suy niệm về những phẩm hạnh của Tam Bảo, trong khi những người lính nhìn Ngài một cách hăm dọa. Sau khi những người lính Anh đi, dân làng vội vã đưa Ngài vào một nơi rừng núi sâu kín hơn và bạch với Ngài họ sẽ dàn xếp cho người đến dâng vật thực, Ngài khỏi phải ra để trì bình.

Trong những ngày sau đó càng có thêm nhiều nhóm lính, đến làng tìm tòi lục soát đôi khi nhiều lần trong ngày chỉ để bắt Ngài. Dân làng càng ngày càng lo sợ là Ngài sẽ bị phát giác. Có vẻ không cách gì khác hơn là Ngài phải trở về Thái Lan. Họ bèn đưa Ngài đến một con đường mòn bí mật dẫn về Thái mà quân lính không biết. Họ mô tả rành rẽ con đường với nhiều chi tiết, chỉ hướng đi, những vùng phải đi qua. Họ bạch với Ngài dù con đường có gập ghềnh hay khó khăn thế nào, chớ nên đi lệch ắt sẽ bị lạc lối, vì đó là con đường bí mật của dân rừng qua lại giữa Thái và Miến Điện. Phra Acharn Chob gấp rút giã từ dân làng rất tốt bụng và lên đường, bắt đầu cuộc hành trình dài ngày và vô cùng nguy hiểm.

Ngài đi ngày và đêm không ngừng để ngủ nghỉ và ăn (vì theo giới tỳ khưu Ngài không thể mang theo vật thực), chỉ uống chút ít nước. Trong thời gian ba ngày ba đêm ròng rã Ngài tiếp tục cuộc đi bộ trong rừng sâu hoang vắng, trèo hết núi này sang núi nọ, gặp dấu chân đủ các loài thú như cọp, voi rất nhiều trong rừng. Ngoài những hiểm họa hiện tại là bị thú dữ thình lình tấn công, còn nỗi lo rất dễ lạc đường và chết giữa rừng.

Sáng sớm ngày thứ tư, Ngài loạng choạng xuống một sườn núi, lảo đảo bước từng bước, mệt mỏi và đói bụng, kiệt sức, đoán chắc là phải chết nơi đây. Ngài đã đi bộ ba ngày ba đêm không ăn và không ngủ. Suốt thời gian ấy không gặp một người nào để có thể khất thực. Ngài nghĩ đến sự mỉa mai của toàn bộ câu chuyện này – Ngài đã thoát khỏi nạn tàn phá của chiến tranh giữa các quốc gia nhưng rất có thể sẽ bị sa vào cơn tàn phá của tình trạng bụng đói và mệt mỏi trong cảnh ẩn dật của rừng núi hoang vu mà chính Ngài rất yêu thích.

Rồi Ngài nghĩ đến các chư thiên mà Đức Phật đã đề cập đến là có năng lực thần thông, thiên nhĩ và thiên nhãn. “Các vị ấy có biết chăng tình trạng của vị tỳ khưu này có thể chết vì đói?” Ngài tự nói thầm với mình. “Nhiều người trong số các vị ấy đã lợi lạc rất nhiều từ giáo huấn của chư tỳ khưu, từ thời Đức Phật còn tại tiền cũng như trong hiện tại. Có thể nào các vị ấy giúp cho một tỳ khưu đang lâm nạn, đã kiệt sức chăng.” (19)

Không bao lâu sau đó, trong khi còn lảo đảo đi dài theo con đường mòn, Ngài thấy một người đàn ông ăn mặc đẹp đẽ không phải theo lối trang sức của người ở rừng. Vị ấy ngồi bên đường, tay bê một mâm cơm để cao khỏi đầu (theo cách các thiện tín thường làm khi dâng vật thực cho một vị tỳ khưu). Vị thí chủ này cứ như từ trên trời rơi xuống. Ý nghĩ này làm Phra Acharn Chob rất đỗi ngạc nhiên. Cơn đói và mệt tan biến.

Vị thí chủ lễ phép thỉnh Ngài dừng chân nghỉ một lúc. Vị ấy có vật thực để dâng Ngài, sau khi thọ thực Ngài có thể tiếp tục lên đường. Vị ấy nói rằng Ngài Phra Acharn Chob sẽ đến bìa rừng trước khi trời tối.

Phra Acharn Chob dừng lại, đặt gánh vật dụng xuống và lấy bát ra khỏi bao để thọ bát. Tất cả vật thực trong bát có mùi rất ngọt và thơm. Lúc ấy Phra Acharn Chob hỏi vị thí chủ từ đâu đến, vì Ngài đi đã ba ngày ba đêm mà không bao giờ gặp xóm làng hay người đi đường. Vị thí chủ đưa tay chỉ sơ sơ trên cao và nói mình sống ở kia. Khi Phra Acharn Chob hỏi làm sao vị ấy hay biết rằng có một vị tỳ khưu đi qua lối này, vị ấy chỉ mỉm cười mà không nói gì. Rồi Phra Acharn Chob đọc tụng những đoạn kinh chúc phúc. Khi Ngài chấm dứt, vị thí chủ đảnh lễ bái từ, nói rằng nhà mình ở cách đây khá xa.

Vị này có dáng điệu và tư cách trang nghiêm từ tốn và tĩnh lặng đặc biệt. Vị ấy khoảng trung niên, vừa người, mặt mày sáng sủa và cử chỉ từ tốn. Vị ấy đứng dậy và bước đi, ra phía sau một cội cây to lớn mọc gần đó. Phra Acharn Chob tò mò chăm chú nhìn theo, nghĩ rằng sẽ thấy vị ấy xuất hiện khi qua phía bên kia cội cây, nhưng rất ngạc nhiên, không thấy! Phra Acharn Chob đứng dậy bước đến cội cây để nhìn và không thấy ai đâu hết! Ngài trở lại chỗ ngồi và chuẩn bị thọ thực. Tất cả thức ăn trong bát vừa đủ cho nhu cầu vật chất của Ngài. Chất dinh dưỡng hình như tức khắc bồi bổ cơ thể, cho sức khỏe và sinh lực. Số lượng vật thực cũng chính xác đúng như cơ thể Ngài cần, không quá nhiều và cũng không quá ít. Nếu có nhiều thêm một chút Ngài cũng không thể dùng hết.

Phra Acharn Chob cảm thấy khỏe khoắn trong người, sức lực và nghị lực được bồi bổ đầy đủ, tiếp tục cuộc hành trình. Trên đường, Ngài không ngớt ngạc nhiên khi nghĩ đến vị khách lạ thường. Đến chiều muộn Ngài ra khỏi rừng, đúng như lời vị khách thí chủ, và sau đó không bao lâu, một lần nữa Ngài đặt chân trở lại trên đất Thái. Tất cả dấu vết trên đường trong cuộc hành trình đầy nguy hiểm đã tan biến.

Về sau Phra Acharn Chob nói rằng vị khách lạ gặp giữa đường không phải là ai khác hơn một chư thiên đã đến để đáp lại thỉnh nguyện khẩn thiết của Ngài. Dáng điệu và tư cách của vị ấy, cũng như việc suốt cuộc đi ba ngày ba đêm Ngài không thấy xóm làng và không gặp người đi đường cho thấy rõ như vậy. Chính việc Ngài còn sống sót cũng là kỳ diệu phi thường. Có lẽ nhờ chư thiên trong khu rừng ấy bảo vệ hoặc có lẽ cũng nhờ năng lực của Giáo Pháp hỗ trợ, hoặc nhờ cả hai.

Những người dân làng ở Miến Điện mà Ngài phải từ giã rất lo âu cho Ngài, họ rất sợ rằng Ngài phải chết dọc đường, nhưng không thể làm gì khác. Họ biết rằng nếu Ngài ở lại thêm lâu nữa ắt có nhiều cơ hội bị lính Anh phát giác và chúng sẽ giết Ngài. Họ vẫn biết rằng hy vọng sống sót sau một cuộc đi đầy hiểm họa như vậy là rất mỏng manh, nhưng còn có chút hy vọng hơn là chỉ ở đó chờ ngày bị tàn sát.

Những lời lược thuật trên đây về cuộc sống mạo hiểm của Phra Acharn Chob thật vắn tắt. Cũng như thiền sư Phra Acharn Mun của Ngài, Ngài thích sống ẩn dật trong những khu rừng hay vùng núi hoang vắng, chỉ sống đơn độc. Những gì được ghi chép ở đây do chính Ngài tường thuật. Xin người đọc tự do bình phẩm.
__________

(19). Chính Phra Acharn Chob đã có nói rằng vào một lúc nào trong quá khứ đã có một loại liên hệ nào đó giữa Ngài và những chúng sanh trong cảnh trời (chư thiên). Tác giả.

^^^

183. Liên hệ giữa Ngài Acharn và chư vị đệ tử


Thích sống trong cảnh rừng núi ít nhiều cũng là đặc tính chung của chư vị đệ tử của Ngài Acharn. Điều mà mọi người đều biết là Ngài Acharn thường khuyên chư vị đệ tử nên sống ẩn dật và đơn độc trong rừng, và thường nói rằng bất luận Giáo Pháp nào mà chính Ngài đã chứng ngộ, dù thô hay tế, Giáo Pháp nào mà Ngài dạy đệ tử, đều do những thử thách gay go đã trải qua vào thời kỳ sống trong rừng núi.

Về phương diện vật chất, Ngài Acharn đã viên tịch từ lâu, nhưng về mặt tinh thần, vẫn còn liên hệ giữa Ngài và các vị đệ tử , có khuynh hướng trông thấy những linh ảnh trong khi hành thiền. Cũng như lúc Ngài còn tại tiền, khi vị đệ tử gặp trở ngại trong thiền định hay thiền tuệ, Ngài xuất hiện trong linh ảnh khi vị ấy hành thiền, như một giấc mơ, và ban dạy những lời khuyên cần thiết để vượt qua chướng ngại, giống như trước kia những vị A La Hán đã xuất hiện và dạy Ngài. Khi những lời dạy chấm dứt, linh ảnh cũng mờ dần và tan biến, rồi tùy vào vị đệ tử đó suy niệm về những gì được dạy nhằm khắc phục chướng ngại để tiến bộ thêm trên con đường của Giáo Pháp.

Đối với những ai chưa bao giờ trải nghiệm hiện tượng tương tự thì, lẽ dĩ nhiên, những liên hệ như vậy là rất khó tin, không thể có được. Nhưng đối với vị nào đã có kinh nghiệm và đã thọ hưởng lợi ích từ đó, thì dù bao nhiêu lý lẽ và bao nhiêu công trình biện luận cũng không thể lay chuyển niềm tin, hay làm vị ấy đổi ý. Một lần nữa, ta phải lặp lại rằng không phải tất cả các vị đệ tử đều có trải nghiệm về hiện tượng trên, mà chỉ những vị có khuynh hướng thấy linh ảnh thôi. Một kinh nghiệm của một số vị đệ tử cũng như của chính Ngài Acharn là nghe được Đức Phật và các vị A La Hán giảng Pháp, ở một mức độ nào đó, giống như việc Đức Phật giảng Pháp trên cung trời Tāvatiṁsa (Tam Thập Tam Thiên) cho hoàng hậu Maya mẹ mình bằng cách hiện hình. Tuy nhiên, những sự kiện liên quan đến Đức Phật dễ làm cho người ta tin hơn những chuyện liên quan đến các vị đệ tử của Ngài. Do đó người viết không muốn nói gì thêm về vấn đề này, để cho người đọc tự quyết định vì một lý do rất giản dị là bất luận những gì đã trực kiến được chắc chắn là sống động và có nhiều giá trị, đáng tin hơn là cả ngàn từ để biện luận và giải thích. Người viết cũng quan niệm rằng chính ta phải tích cực chiến đấu để trực kiến được những gì nằm trong phổ tiếp nhận được của ta. Suy luận, phỏng đoán, biện luận, quan niệm, chỉ trích, tất cả đều không còn nữa khi đã được trực kiến.

Tiểu sử của Ngài Phra Acharn Mun Bhūridatta đến đây kết thúc. Tiểu sử này không được viết theo cung cách chính quy hay học giả vì như vậy vượt quá khả năng của người viết. Đến đây câu chuyện đã đủ dài, nhưng không có nghĩa là đầy đủ. Còn có thể viết thêm nữa nhưng người viết không nhớ hết. Tuy nhiên những gì được ghi chép nơi đây từ lúc Ngài còn niên thiếu đến khi viên tịch có thể là nguồn khích lệ cho những ai đồng khuynh hướng trong phương pháp thực hành.

Đời của Ngài Acharn không có khuyết điểm. Quả thật là cuộc sống của bậc trí tuệ theo tinh thần Phật Giáo, đúng theo ý nghĩa của nó. Trong thời niên thiếu, Ngài không gây tổn hại cho ai. Sau khi xuất gia, Ngài không bao giờ ngừng chuyên cần tinh tấn để tự củng cố vững chắc trên con đường của Giáo Pháp đến mức rất đông đảo tỳ khưu và cư sỹ ngưỡng nhìn lên như vị lãnh đạo tinh thần và thiền sư của họ, cho đến ngày cuối cùng. Cuộc đời như vậy được gọi là joti jotiparāyano – đến trong sáng, ra đi trong sáng, tức là đến tốt đẹp và rồi ra đi tốt đẹp.

Phương pháp tự trau dồi và tự phát triển của Ngài bền bỉ cương quyết và thật sự là mẫu mực. Ngài không để cho cho ô nhiễm vượt qua Giáo Pháp. Ngài tận diệt mọi hình thức ô nhiễm, và trong giới đệ tử, tất cả đều biết Ngài là một vị A La Hán. Hơn nữa, sự trợ giúp của Ngài đối với người khác không bao giờ tách rời khỏi Con đường của Giáo Pháp mà chính Ngài đã chứng ngộ, từ bước đầu tiên đến mức Thành Tựu Giác Ngộ Tột Cùng. Ngài có khả năng hiểu thấu tâm tánh, khuynh hướng và thái độ của những người đến với mình để ban bố những lời dạy thích hợp cho mỗi người. Tâm từ của Ngài vô lượng vô biên, Ngài ban rải đến tất cả, bất kể già trẻ, nam nữ, địa vị hay đẳng cấp xã hội.

Ngài Acharn liên tục huấn luyện chư đệ tử cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời. Phương cách giảng giải của Ngài luôn rọi sáng đường lối vượt qua mọi trở ngại hay giải quyết những vấn đề khó khăn tưởng như không thể vượt. Ngài dạy dỗ và hướng dẫn chư đệ tử vì sự tiến bộ và châu toàn của từng vị một để sau này không ai có thể nuối tiếc vì đã gặp được một người như vậy, người Tối Thượng trong Ba Cõi. Các vị đệ tử cao niên của Ngài, trải qua lối huấn luyện và hướng dẫn của Ngài, đã tự củng cố vững chắc trong Giáo Pháp và trở thành các bậc Acharn hướng dẫn người khác trên Chánh Đạo. Tất cả đều có một số đông đệ tử ở nhiều nơi trên đất nước. Và cũng có những vị đệ tử khác là triệu phú trong Giáo Pháp, nhưng thích sống đơn độc ẩn dật. Tất cả đều đã thọ hưởng phước lành của Giáo Pháp do Ngài ban truyền.

Phần đóng góp của Ngài Acharn trên phương diện phát triển nguồn lực con người không thua kém ai. Ngài làm mọi người để nhìn vào những sự thật của đời sống, phân biệt điều chánh lẽ tà, biết rõ cái gì là nhân, cái gì là quả, tất cả đều là những sự thật bao quát. Thế gian sẽ phát triển tốt đẹp hay suy đồi phụ thuộc tâm của mọi người. Tâm là nguyên động lực sơ khởi, và nếu tâm có thái độ đúng đắn, tức thái độ của Giáo Pháp, tất cả những gì mà lời nói và hành động diễn đạt sẽ đưa đến thăng tiến và phát triển. Tâm như vậy sẽ phát triển theo đường lối của Giáo Pháp. Không phải thực hành Giáo Pháp trên đầu môi chót lưỡi, chỉ lảm nhảm lặp lại những gì nghe, đó chỉ là dấu hiệu của một tâm kém phát triển.

Ngài Acharn hiểu người đến gặp Ngài, biết cả năng lực và nhược điểm của họ. Những ai hiểu rõ Ngài đều hết lòng cảm kích và họ sẵn sàng hy sinh tất cả vì Ngài. Có sự hiểu biết lẫn nhau giữa họ, và quan hệ đó là một quan hệ không vị kỷ. Một lần nữa điều này cho thấy tâm là nguồn năng lực lớn lao nhất trong việc thiện cũng như trong điều ác.

Người không sợ hiểm nguy và cái chết trong khi làm những gì họ đã quyết định, dù thiện hay bất thiện, phải vững chắc hướng tâm về điều ấy. Đây cũng là sự thật đối với chư vị đệ tử của Ngài Acharn, đặc biệt là các vị tỳ khưu, những vị đã được Pháp của Ngài làm cho “hồi sanh”, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để thực hành đúng theo lời dạy của Ngài. Đối với nhiều vị ngưỡng mộ Ngài, hào quang của bản thân Ngài và của Giáo Pháp mà Ngài truyền dạy đều rất thích thú và lôi cuốn. Riêng đối với người viết, hình như Ngài Acharn mới viên tịch thôi. Nhiều hình ảnh liên quan đến những diễn biến trong đời sống của Ngài vẫn còn sống động trong nhãn quan của tâm, và lòng từ bi của Ngài vẫn còn ấm trong tâm, mặc dù Ngài đã viên tịch từ hai thập niên trước.

^^^

184. Những lời dạy cuối cùng của Ngài Acharn


Người viết muốn kết thúc tiểu sử của Ngài Acharn với những điểm chánh yếu trong những lời giáo huấn cuối cùng của Ngài, từ lúc bắt đầu lâm trọng bệnh đến ngày viên tịch. Sức khỏe và sanh lực của thân Ngài từ từ giảm sút. Ngài nói đã suy niệm về tình trạng này hơn sáu mươi năm rồi, và từ thời điểm chứng ngộ chân lý, tuyệt đối không có gì để dính mắc hay lo âu. Cơ thể vật chất này đã bắt đầu chết dần từ thuở mới phôi thai trong bụng mẹ. Mặc dù chúng ta luyến ái và xes nó là của mình, không hề bao giờ nó tỏ ra thương hại hay dịu hiền. Nó được cấu thành bằng những nguyên tố giống hệt như thế giới bên ngoài. Giáo huấn cuối cùng này là những lời cảnh báo cho chư vị đệ tử Ngài.

“Những gì thầy lo âu trong thời điểm này là các đệ tử về đây từ xa hay gần”, Ngài nói, “vì các con có thể âu sầu và thất vọng khi thầy ra đi. Cũng vì lí do ấy chớ không có gì khác mà thầy thường nói rằng không bao giờ nên quá tự tin. Nếu không, các con tự thỏa mãn, suy tưởng ảo huyền rằng chút ít ô nhiễm còn lại ấy không thể làm hại các con. Dù còn ít ô nhiễm thế nào đi nữa, chúng có năng lực tiềm ẩn là đưa đến những kiếp tái sanh và tái tử vô cùng tận. Các con phải cấp tốc đưa chúng ra ánh sáng và triệt tiêu chúng, và không nên chần chừ khi còn có thể nắm được chúng. Không nên trì hoãn nhiệm vụ ấy cho đến khi quá trễ. Đó là những lời thầy cảnh báo các con.

“Các con có nhận thức được từ đâu những đau khổ không thể tả ấy đến với người và thú trên thế gian này không? Nó đến từ những ô nhiễm và những khát vọng, vốn xem hình như vô hại và không đáng kể! Với tất cả những khả năng cùng niệm và tuệ của thầy, thầy đã đào được đến nguồn gốc của nhân và quả của sanh, tử, và những nỗi khổ đau khác và không tìm được mầm mống nào của những khổ đau ấy ngoài những ô nhiễm xem hình như vô hại và không đáng kể. Hãy nhìn vào chính cái tâm của các con và quan sát một cách vô tư thái độ của tâm mình đối với những ô nhiễm ấy. Nếu các con vẫn nhìn những ô nhiễm ấy là chuyện vặt và dể duôi hời hợt với chúng thì việc các con ở với thầy dù lâu dài cách mấy vẫn như cái muôi chìm trong nồi canh. Nếu các con muốn làm cái lưỡi được nếm hương vị của Giáo Pháp thì phải chú ý đến lời cảnh giác của thầy. Nếu hoang phí cơ hội này của mình thì cái chết của các con còn vô ích hơn cái chết của một con thú, vì ít ra sừng, da và thịt thú có thể được sử dụng. Dù sống, kiếp sống của các con không hơn gì kiếp sống của loài thú.

“Từ ngày đầu tiên lâm bệnh, thầy đã nói với các con rằng thầy đang chết. Chết với tâm buông xả là chấm dứt tất cả mọi lo âu và đau khổ. Không còn gì chưa làm và không còn gì để trông chờ. Chết với tâm ô nhiễm làm phát sanh cảm thọ bất toại nguyện và một cuộc sống mới, dù sẽ vào cảnh giới nào. Ngày nào còn ô nhiễm ắt sẽ còn đau khổ. Các con không nên nuôi dưỡng ước vọng sẽ tái sanh vào cảnh giới này hay cảnh giới nọ và ảo huyền nghĩ rằng mình sẽ tiếp nhận nhiều ân huệ, thọ hưởng nhàn lạc. Ngày nào còn hạt giống ham muốn thì ngày ấy còn hạt giống đau khổ tiềm ẩn ngủ ngầm.

“Cuộc sống của một vị tỳ khưu sẽ không lợi ích gì nếu tâm không được thọ hưởng sự tĩnh lặng từ việc hành thiền. Các con sẽ không bao giờ kinh nghiệm tâm an lạc nếu còn bị ô nhiễm thống trị. Từ giờ phút này, các con hãy chuyên cần tự củng cố trên Con Đường của Giáo Pháp. Những ai đủ nghị lực, can đảm và cương quyết nhẫn nại để chiến đấu chống ô nhiễm - vốn lúc nào cũng đối nghịch với Giáo Pháp - chắc chắn các con sẽ thọ hưởng trong tâm phước lành và hạnh phúc an lạc trong tâm tại đây và ngay lúc này. Đó là nhiệm vụ duy nhất có thể được hoàn tất. Không phải như việc lang thang vô tận, xuyên qua những kiếp tái sanh và tái tử trong những cảnh giới khác nhau. Mỗi Giáo Pháp mà Đức Phật tuyên ngôn chỉ nhằm đến mục tiêu duy nhất là cắt đứt dòng trôi chảy vô cùng tận của việc lang thang vô tận và hậu quả đau khổ không thể tả của nó.

“Những ai nhắm đến mục tiêu vượt qua khỏi vòng luẩn quẩn này phải có khả năng áp dụng chân lý của ba đặc tính – vô thường, khổ và vô ngã – trong Tam Giới nơi mà ba đặc tính ấy luôn luôn hiện hữu. Sự khác biệt giữa những cảnh giới ấy không phải chỉ trong loại hình mà còn ở mức độ. Chân lý này phải được chứng ngộ bằng trí tuệ. Luyến ái, dù thô hay tế thế nào, chỉ có thể tận diệt nếu trí tuệ đủ dũng mãnh và phát triển đầy đủ. Đức Phật và chư vị Thánh Đệ Tử của Ngài đã làm đúng như vậy.

“Nói như vậy không phải nâng cao quá đáng giá trị của trí tuệ, và hạ thấp những pháp thực hành Giáo Pháp khác, có thể ví như cơ quan quân nhu, mà nhiệm vụ là cung cấp lương thực, y phục, và những nhu cầu khác cho quân đội. Chính họ không ra chiến đấu ngoài mặt trận, nhưng họ đảm trách nhiệm vụ hỗ trợ, tiếp tế cho lực lượng chiến đấu làm nhiệm vụ xông pha trên chiến trường. Quân chiến đấu ở đây là trí tuệ, chiến đấu chống ô nhiễm, với sự hỗ trợ của các pháp thực hành Giáo Pháp khác. Chính trí tuệ chiến đấu chống lại ô nhiễm, không để nó phá rầy người hành thiền trong cuộc lang thang trong vòng quanh tái sanh và tái tử. Hành giả lúc nào cũng phải giữ vững trí tuệ với mình.

“Nơi nào có chướng ngại chặn ngang con đường, nơi ấy các con phải cương quyết vượt tiến qua. Không nên sợ chết khi đó là kết quả của ý chí tinh tấn tận diệt mầm mống của sanh và trở thành (tức tái sanh) trong tâm. Nếu chết phải đến, để cho nó đến bằng nỗ lực quyết tâm. Không để nó đến với một chiến binh bại trận, tinh thần suy sụp vì đó sẽ là nguyên nhân của tiếc nuối lâu dài về sau. Không nên sợ thế gian vắng bóng người và trở nên hoang vu vì không có ai sanh ra để lấp đầy nó. Lối suy nghĩ vô nghĩa lý như thế có lợi ích gì? Chính vì sự lười nhác và lợi dưỡng mà chúng sanh phải chịu vô vàn đau khổ, không hy vọng giải thoát.

“Thầy đã dạy tất cả những điều có thể cho các con, không giữ lại điều gì. Thầy đã giảng giải trọn vẹn với đầy đủ chi tiết với tất cả Giáo Pháp cần thiết để chứng ngộ chân lý. Chỉ có những điều đôi khi thầy thảo luận và giải thích riêng là kinh nghiệm của những người có khuynh hướng riêng biệt. Thầy luôn luôn tận lực cố gắng giúp giải quyết mọi vấn đề của các con cho đến lúc lìa đời. Khi thầy ra đi, các con sẽ khó tìm được một người có thể trợ giúp như thế. Có một khoảng cách lớn giữa Giáo Pháp được viết ra hay nói lên với Giáo Pháp phát hiện trong tâm mỗi người. Một người chưa từng chứng ngộ định, tuệ, Đạo, Quả và Niết Bàn không thể giảng dạy và hướng dẫn người khác đến mức chứng ngộ và Thành Tựu như vậy!”

Cũng như giáo huấn cuối cùng mà Đức Phật ban truyền cho các vị tỳ khưu đệ tử là “Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần”, và rồi Ngài Mun cố gắng giải thích Phật ngôn trên tỉ mỉ hơn.

Từ “các pháp hữu vi” trong lời dạy cuối cùng này của Đức Phật có nghĩa là tất cả các vật được cấu thành, nhưng trong ngữ cảnh của bài kinh mà Ngài đề cập đến, có nghĩa là những gì ở trong tâm của một người, không phải tất cả những vật ở ngoài tâm. Điểm này nhấn mạnh đến Đế Thứ Nhì trong Tứ Diệu Đế: Tập Đế, nguyên nhân phát sanh khổ, làm cho tâm chao động và không ngừng quấy rối tình trạng thanh bình an lạc của tâm. Nếu những sự vật được cấu thành ấy được trí tuệ thấu hiểu tận tường, chức năng tạo quả của nó (tức nền tảng làm phát sanh đau khổ của nó) sẽ chấm dứt. Khi đó không còn gì có thể khuấy động tình trạng an lạc của tâm. Suy nghĩ vẫn còn đó, nhưng chỉ là những suy nghĩ đã được thanh lọc trong sạch, tức đã loại trừ những ô nhiễm của vô minh và ái dục. Nói cách khác, chúng chỉ là những uẩn (khandha). Đó có thể giống như một giấc ngủ mê, hoàn toàn yên nghỉ, không chút vọng động, không chiêm bao mộng mị. Đó là cái tâm thấm nhuần trạng thái an lạc không lay chuyển và hạnh phúc (vūpasama citta), vốn là trạng thái tâm đặc thù của Đức Phật và chư vị Thánh Đệ Tử. Tâm trong trạng thái ấy tuyệt đối không còn luyến ái hay kỳ vọng. Cùng với tình trạng tuyệt trừ mọi ô nhiễm là sự chứng ngộ Niết Bàn và Đạo, Quả A La Hán. Đó là Giáo Pháp vi diệu không gì trong Tam Giới có thể so sánh.”

Ngài Acharn không còn thuyết Pháp thêm lần nào nữa.

^^^

185. Sám hối và chúc phúc


Tất cả những gì được ghi chép trong tiểu sử này của Ngài Acharn Mun không phải là câu chuyện đầy đủ về cuộc đời của Ngài. Chỉ có khoảng bảy mươi phần trăm là những gì có thể nhớ và thu nhập từ những người khác. Ba mươi phần trăm kia, người viết phải cố gắng lắm để gác lại. Mục đích của người viết là làm cho cuốn tiểu sử này đem lợi ích đến nhiều người nên đành bó bụng gác lại những chi tiết có thể gây tổn hại cho nhiều vị độc giả hơn là có lợi. Mặc dù chỉ là bảy mươi phần trăm, những trang này vẫn có thể không được vài người chấp nhận và gây tổn hại cho vài người khác. Người viết xin sám hối với quý vị độc giả về khuyết điểm này. Một lí do khác là người viết cảm thấy việc ghi chép tất cả những gì Ngài Acharn dạy là không thích hợp vì có thể Ngài sẽ bị chỉ trích vì sự thái quá của chính người viết.

Lúc đầu, người viết muốn sắp xếp theo lối sưu tập cổ xưa, nhưng rồi không chính xác theo đúng, và như vậy nội dung có phần không theo thứ tự do bẩm tính thất thường của người viết hơn là những nguyên tắc phổ thông đã được chấp nhận. Nếu có gì tách rời hay sai lạc khỏi những lời dạy của Ngài, nơi đây người viết xin sám hối với Ngài Phra Acharn Mun là vị thầy đã giúp người viết “hồi sanh” bằng Giáo Pháp của Ngài.

Ngưỡng nguyện, với năng lực tâm từ vô lượng vô biên Ngài dẫn dắt mọi người đến hạnh phúc và châu toàn. Ước mong rằng tất cả những ai cảm phục và kính mến Ngài sẽ vững chắc cương quyết bước theo dấu chân và thành tựu giống như Ngài. Và ước nguyện xứ Thái thọ hưởng tình trạng tiến bộ, châu toàn và chung hợp trong Giáo Pháp của Đức Phật.

Mọi lời phê bình của chư vị độc giả, người viết xin chấp nhận tất cả không biện giải, bào chữa. Mọi lời khen hay khích lệ nào có thể có, người viết cũng xin chấp nhận với lòng tri ân.

Do oai lực của Tam Bảo, nếu những cố gắng này có nảy sinh lợi ích hay phước báu nào, xin hồi hướng đến người đọc và những vị đã có công trong việc ấn hành cuốn sách này. Ước mong tất cả đều khỏe mạnh, tiến bộ và đạt được ước nguyện của họ trong Phật Pháp.

Tháng 5 năm 2514 PL (1971 DL) 

^^^

HẾT


Phra Acharn Mun Bhūridatta Thera 


Tác giả: Phra Acharn Mahā Boowa Ñāṇasampanno
Dịch sang tiếng Anh: Siri Buddhasukh
Dịch sang tiếng Việt: Sumanā Lê Thị Sương và Sunanda Phạm Kim Khánh
Hiệu đính bản dịch Việt: PT Diệu Hạnh

Hội Luật Gia Việt Nam
Nhà xuất bản Hồng Đức
Địa chỉ: 65 Tràng Thi, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Email: nhaxuatbanhongduc@yahoo.com
Điện thoại: 04.39260024 Fax: 04.39260031

Chịu trách nhiệm xuất bản: Giám đốc Bùi Việt Bắc
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng biên tập Lý Bá Toàn
Biên tập: Nguyễn Thế Vinh
Thiết kế bìa và ruột: PT Diệu Hạnh

In 2000 cuốn khổ 15,2 cm x 22,6 cm tại Xí nghiệp in Fahasa
Số ĐKKHXB: 198-2015/CXBIPH/47-05/HD
QĐXB số: 12/QD-NXBHD
Mã Số ISBN: 978-604-86-4085-9
In xong và nộp lưu chiểu quý 1 năm 2015

Liên hệ xin sách và góp ý xin gửi email tới d.dieuhanh@gmail.com

“Giáo Pháp không bao giờ 
không thích hợp, 
không thể thực hành, 
hay lỗi thời.”

---oOo---